V.I. Lê-nin đấu tranh chống lại phái dân túy để bảo vệ chủ nghĩa Mác và những gợi mở trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta hiện nay

TS. LÊ THỊ CHIÊN
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
09:43, ngày 05-06-2020

TCCS - Sinh thời, V.I. Lê-nin luôn đấu tranh không khoan nhượng với các phái phi mác-xít, trong đó có phái dân túy để bảo vệ chủ nghĩa Mác. Tinh thần đấu tranh đó của V.I. Lê-nin có những gợi mở quý báu trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta hiện nay.

V.I. Lê-nin đấu tranh chống lại phái dân túy để bảo vệ chủ nghĩa Mác

Năm 1895, khi Ph. Ăng-ghen - lãnh tụ của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế qua đời, phong trào cách mạng ở một số nước Tây Âu có nhiều biến đổi, trước hết là sự hình thành các nhánh tư tưởng hữu khuynh, mà thực chất là dung hòa với quan điểm tư tưởng của giai cấp tư sản, chủ trương cải cách, từ bỏ chuyên chính vô sản... Trong bối cảnh ấy, trên thế giới cũng như ở nước Nga xuất hiện một số khuynh hướng tư tưởng phi mác-xít nhằm chống lại chủ nghĩa Mác thông qua việc “cắt xén và bóp méo một cách hết sức kỳ quái”(1) những quan điểm của C.  Mác. Chính những biến động về mặt chính trị, xã hội và tư tưởng đó đã thôi thúc V.I. Lê-nin đấu tranh chống lại những tư tưởng phi mác-xít, trong đó có tư tưởng của phái dân túy để bảo vệ chủ nghĩa Mác.

V.I. Lê-nin luôn đấu tranh không khoan nhượng với các phái phi mác-xít, trong đó có phái dân túy để bảo vệ chủ nghĩa Mác _Tranh tư liệu

Phái dân túy hay chủ nghĩa dân túy (populism) là một trào lưu xã hội - chính trị ở Nga, ra đời vào nửa cuối thế kỷ XIX. Nguồn gốc xã hội của nó là cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân, chủ yếu là nông dân, nhằm đòi ruộng đất và thủ tiêu các hình thức bóc lột của chế độ nông nô. Ban đầu, phái dân túy có nhiều tư tưởng tiến bộ, vì những người theo phái này căm thù sâu sắc chế độ chuyên chế của Nga hoàng; nhiệt tình bênh vực chủ trương mở rộng giáo dục, đề cao chế độ tự quản, bảo vệ lợi ích của quần chúng, chủ yếu là nông dân Nga lúc bấy giờ. Tuy nhiên, phong trào đấu tranh của phái dân túy nhanh chóng bị thất bại, do tư tưởng và phương pháp đấu tranh của họ mang nặng tính không tưởng tiểu tư sản. Dù vậy, sau đó phong trào đấu tranh này vẫn tồn tại dai dẳng nhưng mang nặng tính tự do và trở thành trào lưu phản động, thỏa hiệp, đi đến làm tay sai cho Nga hoàng và thực chất là bảo vệ quyền lợi của tầng lớp phú nông. Vì vậy, “bản chất của chủ nghĩa dân túy là sự hỗn tạp những tư tưởng dân chủ nông nghiệp với ước mơ xã hội chủ nghĩa, hy vọng bỏ qua chủ nghĩa tư bản - một biến dạng của chủ nghĩa xã hội không tưởng tiểu tư sản ở nước Nga, đó là hệ tư tưởng của phái dân chủ nông dân”(2).

Nhận thấy tính chất cải lương, không tưởng của phái dân túy, V.I. Lê-nin đã viết một số tác phẩm để phê phán tư tưởng của phái này, trong đó tiêu biểu nhất là tác phẩm “Những “người bạn dân” là thế nào và họ đấu tranh chống những người dân chủ xã hội ra sao” (năm 1894). Đây là một tác phẩm có tính chất luận chiến nhằm phê phán các nhà lý luận của phái dân túy tự do. Trên cơ sở đó, V.I. Lê-nin bảo vệ chủ nghĩa Mác trong điều kiện thực tiễn đã có nhiều thay đổi ở nước Nga những năm cuối thế kỷ XIX.

Theo V.I. Lê-nin, tư tưởng của phái dân túy có xu hướng chống lại những quan điểm của chủ nghĩa Mác, vì họ dựa trên nền tảng chủ nghĩa duy tâm chủ quan. Phái dân túy cho rằng, chủ nghĩa Mác chỉ là sự sao chép lại “tam đoạn luận” của Hê-ghen chứ không có gì mới. Do đó, họ bài xích những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật của C. Mác; xem xét sự phát triển của lịch sử xã hội loài người chỉ như là quy luật tự nhiên đơn thuần. Hơn nữa, họ cho rằng, nông dân là lực lượng trung tâm của cách mạng, do vậy chủ trương đi lên chủ nghĩa xã hội từ công xã nông thôn. Những người thuộc phái dân túy tự xưng là “những người bạn dân” khi ủng hộ nông dân, cổ xúy nông dân đứng lên làm cách mạng.

V.I. Lê-nin đã lên tiếng phê phán tư tưởng của một số thủ lĩnh thuộc phái dân túy, như Mi-khai-lốp-xki, Xtơ-ru-vê..., khi cố tình xuyên tạc những quan điểm của chủ nghĩa Mác về giai cấp, đấu tranh giai cấp và sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử xã hội loài người. Ông gọi đó là một sự “cắt xén và bóp méo một cách hết sức kỳ quái” chủ nghĩa Mác. Ông chỉ rõ: “Chủ nghĩa dân túy điều hòa, nhu nhược, đa cảm và mơ mộng của những “người bạn dân” sẽ không thể đứng vững lâu được, khi nó bị tấn công từ hai phía: một phía thì bị phái cấp tiến chính trị tấn công, vì những “người bạn dân” có thể tin vào bọn quan lại và không hiểu được sự cần thiết tuyệt đối phải có đấu tranh chính trị; phía khác thì bị những người dân chủ - xã hội tấn công, vì “những người bạn dân”, tuy không có liên quan gì với chủ nghĩa xã hội và hoàn toàn không có một khái niệm nào về nguyên nhân gây ra sự áp bức người lao động và về tính chất cuộc đấu tranh giai cấp đang diễn ra, nhưng lại muốn được coi là những người xã hội chủ nghĩa hay gần như vậy”(3).

Trên cơ sở chỉ rõ những nhận thức lệch lạc của phái dân túy đối với chủ nghĩa Mác, V.I. Lê-nin đi đến khẳng định tính khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác trên những khía cạnh cơ bản nhất. Trước hết, ông phê phán nhận thức sai lầm của phái dân túy khi đồng nhất phép biện chứng duy vật mác-xít với tam đoạn luận của Hê-ghen. Theo ông, bản chất của phép biện chứng duy vật thể hiện ở tính khách quan khi xem xét các sự vật, hiện tượng, không dung hòa với bất kỳ đồ thức luận chủ quan, thuần túy lô-gíc nào. Hơn nữa, phép biện chứng duy vật mác-xít không có tham vọng trở thành một “khoa học phổ quát” theo kiểu lô-gíc học của Hê-ghen, mà là phương pháp nghiên cứu hiện thực khoa học. V.I. Lê-nin khẳng định tính chất duy vật triệt để của phép biện chứng mác-xít khi nghiên cứu lĩnh vực lịch sử, bởi “chủ nghĩa duy vật lịch sử cũng thế, nó không bao giờ có tham vọng giải thích tất cả mà chỉ có ý muốn vạch ra một phương pháp - theo lời của C. Mác (Tư bản) - “duy nhất khoa học” để giải thích lịch sử”(4).

V.I. Lê-nin phê phán quan điểm của phái dân túy khi phái này khẳng định quan điểm về hình thái kinh tế - xã hội của C. Mác chỉ là chủ nghĩa duy vật kinh tế, và cố tình xuyên tạc rằng xuất phát điểm của C. Mác khi nghiên cứu về lịch sử xã hội là hoạt động kinh tế, là phương thức sản xuất, chứ không phải là lĩnh vực tinh thần, tư tưởng như một số nhà triết học trước kia. Bằng sự mỉa mai, châm biếm, V.I. Lê-nin viết: “Trước hết xuyên tạc Mác, sau đó nói huyên thuyên về những điều tự mình bịa đặt ra, rồi thì dẫn chứng một cách chính xác một số ý kiến, để rồi bây giờ trâng tráo tuyên bố rằng những tư tưởng đó thu hẹp phạm vi hoạt động của chủ nghĩa duy vật kinh tế”(5).

Trên cơ sở phê phán những quan điểm sai lầm, phiến diện của phái dân túy về lịch sử xã hội, V.I. Lê-nin tiếp tục khẳng định tính đúng đắn trong quan điểm của chủ nghĩa Mác về hình thái kinh tế - xã hội. Ông cho rằng: “Việc phân tích những quan hệ xã hội vật chất khiến chúng ta có thể nhận thấy ngay được tính lặp lại và tính hợp quy luật, và có thể đem những chế độ của các nước khác nhau khái quát lại thành một khái niệm cơ bản duy nhất là: hình thái xã hội(6). Khẳng định này là cơ sở để V.I. Lê-nin xác định đúng định hướng chủ đạo của cách mạng Nga, từ đó bác bỏ quan điểm không tưởng của phái dân túy khi cho rằng cách mạng Nga có thể đi theo một con đường riêng rẽ. Có thể coi tác phẩm “Những “người bạn dân” là thế nào và họ đấu tranh chống những người dân chủ xã hội ra sao” là một tác phẩm luận chiến kiểu mẫu của V.I.  Lê-nin, bởi trong đó ông đã kiên định lập trường mác-xít, kiên quyết bảo vệ chủ nghĩa Mác trước những luận điệu xuyên tạc, sai lầm, phiến diện của những phái phi mác-xít, đặc biệt là phái dân túy. Để bảo vệ chủ nghĩa Mác, ông đã đánh giá công lao to lớn của C.  Mác trong việc phát hiện ra những quy luật của lịch sử xã hội - một trong hai phát hiện vĩ đại của C. Mác. Ông khẳng định: “Nếu Đác-uyn đã đánh đổ hẳn được quan niệm cho rằng những loài động vật và thực vật là không có liên hệ gì với nhau cả, là ngẫu nhiên mà có, là do “Thượng đế tạo ra” và là bất biến, và ông là người đầu tiên đã làm cho sinh vật học có một cơ sở hoàn toàn khoa học bằng cách xác định tính biến dị và tính kế thừa của các loài, - thì Mác cũng thế, Mác đã đánh đổ hẳn được quan niệm cho rằng xã hội là một tổ hợp có tính chất máy móc gồm những cá nhân, một tổ hợp mà nhà cầm quyền (hay là xã hội và chính phủ thì cũng vậy) có thể tùy ý biến đổi theo đủ mọi kiểu, một tổ hợp sinh ra và biến hóa một cách ngẫu nhiên”(7).

Như vậy, V.I. Lê-nin không những chỉ ra những sai lầm, phiến diện của chủ nghĩa dân túy mà còn luôn kiên định với chủ nghĩa Mác, bảo vệ chủ nghĩa Mác bằng việc khẳng định những giá trị đúng đắn, khoa học, cách mạng trong đó; đồng thời, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác vào giải quyết những vấn đề căn bản của thực tiễn cách mạng nước Nga những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Có thể nói, V.I. Lê-nin là người kế tục xuất sắc sự nghiệp của C. Mác và Ph. Ăng-ghen, là người luôn tích cực đấu tranh chống lại những phe phái phi mác-xít để bảo vệ chủ nghĩa Mác bằng mọi cách. Tinh thần đấu tranh không khoan nhượng đó của V.I. Lê-nin có ý nghĩa to lớn đối với công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta hiện nay.

Những gợi mở từ cuộc đấu tranh chống lại phái dân túy của V.I. Lê-nin đối với việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta hiện nay

Tại Đại hội XII, Đảng ta khẳng định: “Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cùng với chủ nghĩa Mác -  Lê-nin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam, là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta”(8). Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một trong những nhiệm vụ trọng yếu, quyết định sự tồn vong của Đảng, của chế độ ta.

Nhìn lại chặng đường hơn 90 năm vẻ vang của Đảng, ngay từ khi ra đời, xuất phát từ yêu cầu khách quan, trong điều kiện hoạt động giữa vòng vây của kẻ thù và sự chống phá quyết liệt của nhiều thế lực phản cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đặc biệt coi trọng công tác bảo vệ chủ nghĩa Mác  - Lê-nin, bảo vệ cương lĩnh, đường lối của Đảng, đồng thời kiên quyết đấu tranh phản bác, ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch. Từ khi thành lập đến nay, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết chuyên đề về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa VI “Một số vấn đề cấp bách về công tác tư tưởng trước tình hình trong nước và quốc tế hiện nay” (tháng 12-1989); Nghị quyết số 01-NQ/TW “Về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay” (tháng 3-1992); Nghị quyết số 09-NQ/TW “Về một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay” (tháng 2-1995); đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng hiện nay” (tháng 1-2012) và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” (tháng 10-2016). Tinh thần và bản lĩnh của Đảng trong việc lãnh đạo đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng được thể hiện đậm nét nhất trong Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Bộ Chính trị, “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Nghị quyết nêu rõ: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là bảo vệ Ðảng, bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Ðảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Ðó là nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân, trong đó các cơ quan báo chí, tuyên truyền các cấp là nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị - xã hội các cấp, của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, của cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu.

Như vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng được xác định là nhiệm vụ sống còn của Đảng, của chế độ ta hiện nay. Có thể nhận thấy một điểm tương đồng rất rõ giữa việc V.I. Lê-nin luôn tích cực, kiên trì bảo vệ chủ nghĩa Mác với việc Đảng ta luôn kiên trì, kiên định bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bởi lẽ nếu V.I. Lê-nin coi chủ nghĩa Mác là vũ khí lý luận sắc bén của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế nói chung, phong trào cách mạng vô sản ở Nga nói riêng thì Đảng ta coi chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam.

Từ việc V.I. Lê-nin đấu tranh chống lại các phái phi mác-xít, trong đó có phái dân túy để bảo vệ chủ nghĩa Mác, chúng ta có thể rút ra một số nguyên tắc có tính chất phương pháp luận trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở Việt Nam hiện nay như sau:

Thứ nhất, trong bất kỳ hoàn cảnh và tình huống nào cũng phải luôn kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, coi đây là nền tảng tư tưởng vững chắc của Đảng. Do đó, mỗi người mác-xít, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn kiên trì với nền tảng tư tưởng đã lựa chọn, luôn có bản lĩnh vững vàng trước những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch. Sự kiên định ấy không chỉ dừng lại trong tư tưởng, mà cần được thể hiện ở những hành động, việc làm cụ thể. Đối với V.I. Lê-nin, trước bối cảnh, điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị, tư tưởng có nhiều thay đổi so với thời đại của C. Mác và Ph. Ăng-ghen; trước sự trỗi dậy của các khuynh hướng tư tưởng tư sản và các loại chủ nghĩa cơ hội, xét lại, dân túy..., ông luôn giữ vững lập trường của người cộng sản chân chính, đấu tranh không khoan nhượng với các khuynh hướng tư tưởng và các loại chủ nghĩa đó để bảo vệ chủ nghĩa Mác bằng mọi cách. Trong sự nghiệp cách mạng của mình, ông đã có nhiều tác phẩm bút chiến, luận chiến để đấu tranh trực diện với kẻ thù. Tinh thần đấu tranh đó cho thấy bản lĩnh kiên định, vững vàng của người kế tục sự nghiệp của C. Mác và Ph. Ăng-ghen, và đến lượt mình, V.I. Lê-nin tiếp tục ghi dấu công lao to lớn đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, trở thành lãnh tụ vĩ đại của giai cấp vô sản toàn thế giới. Sự kiên định về lập trường tư tưởng cũng chính là ngọn lửa thử vàng, là nguyên tắc tối cao của cán bộ, đảng viên ở Việt Nam hiện nay trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải có bản lĩnh vững vàng trước những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch (Trong ảnh: Cán bộ, chiến sĩ biên phòng tuyên truyền cho nhân dân về các chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước) _Nguồn: bienphong.com.vn

Thứ hai, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là sự thống nhất biện chứng của hai quá trình: vừa tiếp tục khẳng định những giá trị phổ quát, đúng đắn của chủ nghĩa Mác, vừa không ngừng bổ sung, phát triển và vận dụng linh hoạt những nguyên lý của chủ nghĩa Mác trong điều kiện thực tiễn cách mạng Việt Nam ở mỗi giai đoạn lịch sử nhất định. Chính V.I. Lê-nin từng chỉ rõ: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”(9). Trong các tác phẩm luận chiến, bút chiến, khi đấu tranh chống lại tư tưởng sai lầm, phiến diện của các phái phi mác-xít, một mặt, V.I. Lê-nin bảo vệ những quan điểm đúng đắn, bền vững của chủ nghĩa Mác; mặt khác, vận dụng, bổ sung, phát triển những quan điểm đó bằng thực tiễn sinh động của nước Nga nói riêng và các nước trên thế giới nói chung vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Sự vận dụng của V.I. Lê-nin đối với quan điểm của C. Mác và Ph. Ăng-ghen về cách mạng vô sản trong việc thực hiện thành công Cách mạng Tháng Mười Nga, xây dựng nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới là sự khẳng định rõ ràng và đanh thép nhất về tính đúng đắn trong quan điểm đó của C. Mác và Ph. Ăng-ghen.

Chúng ta đang sống trong điều kiện có nhiều cái rất khác so với thời của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Khoa học - công nghệ có những bước tiến nhảy vọt trên tất cả các mặt của đời sống xã hội. Tri thức xã hội phổ biến đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, như C. Mác từng dự báo; năng suất lao động, nhờ vậy, tăng lên nhanh chóng. Nền kinh tế tri thức đã ra đời và đang được vận hành khá hiệu quả ở nhiều nước phát triển. Quá trình quốc tế hóa mà vào thế kỷ XIX C. Mác nói đến đã thực sự trở thành quá trình toàn cầu hóa trong thời đại chúng ta. Ở các mức độ khác nhau, tất cả các nước đều bị cuốn hút và hội nhập vào quá trình toàn cầu hóa, bởi vì nó đã “xâm nhập vào khắp nơi, trụ lại ở khắp nơi và thiết lập những mối liên hệ ở khắp nơi”(10). Trong bối cảnh đó, chủ nghĩa Mác - Lê-nin mặc dù có nhiều giá trị bền vững cho đến ngày nay nhưng không phải không có những điểm cần được bổ sung, phát triển. Việc bổ sung, phát triển đó không phải là “xét lại” hay làm lu mờ chân giá trị của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, mà làm cho những nội dung, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin có thêm sức sống mới, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của giai đoạn cách mạng hiện nay. Đó là một việc làm hết sức khó khăn, đòi hỏi những người cộng sản chân chính phải kiên trì, có bản lĩnh và trách nhiệm đối với hệ thống lý luận cách mạng và khoa học được coi là nền tảng tư tưởng của Đảng ta hiện nay.

Như vậy, với tinh thần của một người mác-xít chân chính và một người cộng sản kiên trung, V.I. Lê-nin luôn kiên định với chủ nghĩa Mác, tích cực đấu tranh chống các quan điểm sai lầm, phiến diện, phản động để bảo vệ chủ nghĩa Mác, đồng thời phát triển những quan điểm của C. Mác và Ph. Ăng-ghen lên một tầm cao mới, có giá trị phổ quát toàn thế giới. Tinh thần đấu tranh không khoan nhượng của V.I. Lê-nin đã cổ vũ, tiếp thêm sức mạnh cho chúng ta  - những người đang kế tục sự nghiệp của C.  Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lê-nin và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong sự nghiệp xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Mặc dù luôn xác định bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một cuộc chiến đầy cam go với nhiều khó khăn, thử thách, song chúng ta tin tưởng rằng, với tinh thần kiên trì, kiên định, kiên trung, những người cộng sản đi theo lý tưởng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin chắc chắn sẽ bảo vệ thành công nền tảng tư tưởng của Đảng./.

------------------------

(1) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1974,  t. 1, tr. 419
(2) Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam: Một số vấn đề về chủ nghĩa dân túy hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2019, tr. 9
(3) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Sđd, t. 1, tr. 427
(4), (5), (6), (7) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Sđd, t. 1, tr. 171, 172, 163, 165 – 166
(8) Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016,  tr. 7 - 8
(9) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 232
(10) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 601


Học thuyết giá trị thặng dư vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh mới

Hoàng Ngọc Hải * - Hồ Thanh Thủy**
* TS, Học viện Chính trị khu vực I - ** TS, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
13:06, ngày 10-05-2020

TCCS - Từ khi ra đời cho đến nay, học thuyết giá trị thặng dư bị các thế lực thù địch và những kẻ biện hộ cho sự bóc lột trong chủ nghĩa tư bản tập trung xuyên tạc, bóp méo nhiều nhất. Họ cho rằng, “học thuyết giá trị thặng dư của C. Mác đã lỗi thời, chủ nghĩa tư bản hiện đại đã thay đổi bản chất, không còn là chế độ bóc lột nữa”, “học thuyết giá trị thặng dư không còn mang tính cách mạng và khoa học”,...

Giá trị lý luận của học thuyết giá trị thặng dư

Để trả lời cho câu hỏi: học thuyết giá trị thặng dư (GTTD) của C. Mác có lỗi thời hay không, trước hết, cần nắm vững bản chất tư tưởng cốt lõi của học thuyết GTTD.

Học thuyết GTTD được hình thành trên cơ sở học thuyết giá trị - lao động mà trực tiếp là việc phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa. Việc phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa có ý nghĩa to lớn về mặt lý luận, nó đem đến cho lý thuyết giá trị - lao động một cơ sở khoa học thực sự.

Trước C. Mác, ngay cả những nhà kinh tế học lỗi lạc của trường phái tư sản cổ điển, như A-đam Xmít và Đa-vít Ri-các-đô đã không giải thích nổi vì sao các nhà tư bản trao đổi hàng hóa đúng giá trị mà vẫn thu được GTTD. C. Mác đã khắc phục được những nhầm lẫn, hạn chế của trường phái cổ điển và làm cho học thuyết giá trị - lao động đạt tới sự hoàn bị. Sử dụng phương pháp đặc thù trong nghiên cứu kinh tế chính trị là trừu tượng hóa khoa học, C. Mác đã tách GTTD ra khỏi những hình thái đặc thù của nó, xây dựng nên học thuyết GTTD của mình.

Các nhà kinh tế trước C. Mác thấy được lao động tạo ra giá trị, nhưng không tách ra được lao động nào (cụ thể hay trừu tượng) tạo ra giá trị. C. Mác cho thấy, chỉ có lao động trừu tượng mới tạo ra giá trị của hàng hóa. Nhờ phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa cùng với một loạt những kết quả nghiên cứu khác: Về lượng giá trị, cấu thành lượng giá trị; nguồn gốc, bản chất, chức năng tiền tệ; quy luật giá trị và tác động của nó; mâu thuẫn công thức chung của tư bản và đặc biệt là nhờ phát hiện ra giá trị sử dụng đặc biệt của hàng hóa sức lao động có thuộc tính hết sức đặc biệt là sản sinh ra giá trị lớn hơn giá trị bản thân nó và nhờ phân biệt được quá trình lao động và quá trình làm tăng giá trị (quá trình sản xuất GTTD), C. Mác đã vạch rõ bản chất của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa (TBCN), thực chất của quá trình sản xuất GTTD. Qua đó, C. Mác làm rõ GTTD được tạo ra trong sản xuất chứ không phải là trong lĩnh vực lưu thông; lưu thông rất cần cho quá trình sản xuất và thực hiện GTTD.

Tất cả thành quả đó, tạo nên cơ sở khoa học vững chắc giúp C. Mác giải thích được nguồn gốc thực sự và quá trình vận động, biến tướng của GTTD thành lợi nhuận, lợi tức, địa tô trong sản xuất, lưu thông, phân phối; phân tích được bản chất của tư bản bất biến và tư bản khả biến... xây dựng nên học thuyết khoa học về GTTD, về tích lũy, về tái sản xuất và khủng hoảng kinh tế... Với học thuyết GTTD, C. Mác đã giải phẫu toàn bộ hệ thống kinh tế TBCN, bóc trần bản chất và nguồn gốc của cái gọi là hình thức “thu nhập” là lợi nhuận, lợi tức và địa tô.

Học thuyết GTTD cho thấy rõ bản chất và đặc điểm bóc lột của TBCN. Kinh tế hàng hóa TBCN là sự phát triển của kinh tế hàng hóa giản đơn. Nhưng, kinh tế hàng hóa TBCN khác với kinh tế hàng hóa giản đơn không chỉ về lượng (tức là không phải chỉ khác ở số lượng lớn sản phẩm bị thu hút vào chu chuyển hàng hóa và hình thái hàng hóa của sản phẩm trở thành hình thái thống trị) mà còn khác về chất. Trên vũ đài hàng hóa xuất hiện một loại hàng hóa mới là sức lao động, do đó, thị trường hàng hóa (nói chung) được bổ sung bằng một bộ phận đặc biệt là thị trường sức lao động. Tất nhiên, thị trường sức lao động không phải do C. Mác khám phá ra, vì ai cũng biết đến sự tồn tại của lao động làm thuê trong các xã hội trước TBCN. Nhưng điểm nhấn là ở chỗ, chỉ có C. Mác mới nhìn thấy lao động làm thuê (hàng hóa sức lao động và chỉ trên cơ sở sản xuất hàng hóa, lao động bị tách khỏi tư liệu sản xuất (TLSX) mới trở thành lao động làm thuê) là một nhân tố cơ bản làm cho tiền chuyển hóa thành tư bản và kinh tế hàng hóa giản đơn chuyển hóa thành kinh tế hàng hóa TBCN - thời đại mới của quá trình sản xuất xã hội, thời đại của tư bản công nghiệp.

Sự phân cực trong vấn đề tài sản tự nó là biểu hiện của tình trạng bất bình đẳng xã hội ngày càng tăng ở các nước tư bản. Cực tích tụ của cải và cực tích tụ đói nghèo là hai mặt của một đồng tiền tư bản ở từng nước và trên phạm vi thế giới _Ảnh minh họa

Phương thức sản xuất TBCN được xây dựng trên cơ sở của một hình thức bóc lột đặc biệt, tức là hình thức chiếm đoạt lao động của người khác (lao động thặng dư) dưới hình thái GTTD. Khác với phạm trù “lợi nhuận” vốn được nhà tư bản yêu thích, GTTD biểu hiện một cách chính xác như sau: 1- Là giá trị, tức lao động vật hóa; 2- Là lao động thặng dư vật hóa, là phần giá trị dôi ra ngoài giá trị sức lao động và bị nhà tư bản chiếm dụng. Từ đó, đặc điểm bóc lột của CNTB không phải là ở sự tồn tại lao động thặng dư, mặc dù dưới sự thống trị của tư bản, trình độ bóc lột được nâng lên rất cao, mà đặc điểm của nó là lao động thặng dư đã hao phí mang hình thái GTTD, còn tỷ lệ giữa thời gian lao động thặng dư và thời gian lao động tất yếu thì mang hình thái tỷ lệ giữa GTTD và tư bản khả biến. Quan hệ bóc lột bị vật hóa, bị che lấp đằng sau quan hệ giữa vật với vật. Vì thế, sự bóc lột trong chủ nghĩa tư bản (CNTB) là rất tinh vi và không có giới hạn.

Như vậy, điểm mấu chốt của học thuyết GTTD là:

Thứ nhất, chỉ có lao động sống mới tạo ra giá trị của hàng hóa, tạo ra GTTD. Nguồn gốc tạo ra GTTD là sức lao động của công nhân làm thuê, chỉ có lao động sống (sức lao động đang hoạt động) mới tạo ra giá trị, trong đó có GTTD, nguồn gốc của GTTD là sự tiêu dùng sức lao động kéo dài ngoài thời gian tái sản xuất ra giá trị của nó;

Thứ hai, GTTD là quy luật kinh tế tuyệt đối của phương thức sản xuất TBCN, không có sản xuất GTTD thì không có CNTB, GTTD là nguồn gốc của mâu thuẫn cơ bản, nội tại của xã hội tư bản (mâu thuẫn giữa lao động và tư bản, giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân), mâu thuẫn này ngày càng sâu sắc, đưa đến sự thay thế tất yếu CNTB bằng một xã hội cao hơn.

Thứ ba, chừng nào còn chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN về TLSX, còn hàng hóa sức lao động, chừng nào mà người lao động còn phải thêm vào thời gian lao động cần thiết để nuôi sống mình một số thời gian lao động dôi ra để sản xuất những tư liệu sinh hoạt cho người chiếm hữu TLSX, chừng đó, học thuyết giá trị thặng dư của C. Mác vẫn còn nguyên giá trị.    

Học thuyết GTTD của C. Mác với những nội dung cốt lõi nêu trên, ngay từ khi mới ra đời đã vấp phải sự phủ nhận từ phía những người biện hộ và bảo vệ CNTB. 

Còn nguyên giá trị trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ

Ngày nay, CNTB đương đại tuy đã có những bước phát triển mới, có sự điều chỉnh ở mức độ nào đó về chế độ sở hữu, quản lý và phân phối, về kiến trúc thượng tầng, nhất là về hệ thống pháp luật và sự điều tiết kinh tế của nhà nước tư sản độc quyền,... để tồn tại và thích nghi với bối cảnh mới. Nhưng học thuyết GTTD của C. Mác vẫn còn nguyên giá trị, bởi bản chất bóc lột của CNTB vẫn hiện hữu, không hề thay đổi.

Từ nửa sau thế kỷ XX, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại phát triển với tốc độ nhanh, với trình độ ngày càng cao. Bước tiến phi thường của cuộc cách mạng này dẫn tới việc xây dựng nhiều ngành công nghệ cao, như công nghệ hạt nhân, công nghệ điện tử, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới và nhiên liệu mới, công nghệ vũ trụ, công nghệ thông tin,... đặc biệt là thúc đẩy sự phát triển công nghệ thông tin và sự ra đời của thời đại tin học.

Trong thời đại “hậu công nghiệp” hay “xã hội thông tin” ngày nay, lý lẽ đưa ra để bác bỏ lý luận GTTD có vẻ “thuyết phục” hơn. Ở các nước tư bản phát triển, mức sống của đại đa số công nhân được nâng cao hơn trước rất nhiều, một số công nhân đã có cổ phiếu trong các xí nghiệp, công ty tư bản, xuất hiện tầng lớp trung lưu đông đảo. Vì thế, nảy sinh luận điệu không còn có sự “phân biệt tư bản và lao động”, “không ai bóc lột ai”, CNTB nếu còn bóc lột thì chỉ bóc lột “người máy”. Vì trong các xí nghiệp hiện đại, tự động hóa, quá trình sản xuất ra sản phẩm không cần hoặc cần rất ít lao động sống, nhưng giá trị do các xí nghiệp này tạo ra tăng gấp bội so với các xí nghiệp cổ điển dùng rất nhiều công nhân,...

Những luận điểm “mới mẻ” ấy quả thật cũng có sự hấp dẫn, nhưng chúng không bác bỏ được sự thật. Chủ nghĩa tư bản mặc dù có những bước phát triển mới, biến đổi về lượng và chất cục bộ, nhưng bản chất bóc lột không hề thay đổi.

Ngày nay, CNTB tuy có những điều chỉnh nhất định về hình thức sở hữu, quản lý và phân phối để thích nghi ở mức độ nào đó với điều kiện mới, nhưng sự thống trị của CNTB tư nhân vẫn tồn tại nguyên vẹn, bản chất bóc lột của nó vẫn không hề thay đổi. Nhà nước tư sản hiện nay tuy có tăng cường can thiệp vào đời sống kinh tế - xã hội, nhưng về cơ bản nó vẫn là bộ máy thống trị của giai cấp tư sản. Những khái niệm và luận điểm phản ánh, đề cập những sự kiện, quan hệ kinh tế - xã hội mới nhất bao giờ cũng hấp dẫn người ta. Nhưng chúng không bác bỏ được thực tế là: không phải lao động quá khứ như máy móc, thiết bị kỹ thuật làm ra giá trị mới, mà lao động sống mới làm ra giá trị mới, lao động sống mới tạo ra GTTD trong thời đại kinh tế công nghiệp trước đây đã như vậy, trong kinh tế tri thức hiện đại cũng vậy.

Tuy nhiên, do trình độ đạt được của văn minh nhân loại và do cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, mà một bộ phận không nhỏ công nhân ở các nước tư bản phát triển có mức sống tương đối sung túc, nhưng về cơ bản, họ vẫn phải bán sức lao động và vẫn bị nhà tư bản bóc lột GTTD. Chỉ có điều khác biệt ở chỗ, quy luật GTTD ngày càng phát huy tác dụng mạnh mẽ trong điều kiện toàn cầu hóa và kinh tế tri thức, song, cơ chế tác động của quy luật này phức tạp hơn, hình thức bóc lột GTTD tinh vi hơn nhiều so với trước đây. Trong điều kiện hiện nay, sản xuất GTTD có những đặc điểm mới: 

Một là, do kỹ thuật và công nghệ hiện đại được áp dụng rộng rãi, nên khối lượng GTTD được tạo ra chủ yếu nhờ tăng năng suất lao động. Việc tăng năng suất lao động do áp dụng kỹ thuật và công nghệ hiện đại có đặc điểm là chi phí lao động sống cho một đơn vị sản phẩm giảm nhanh, vì máy móc hiện đại thay thế được nhiều lao động sống hơn. Hơn nữa, nhà tư bản thông qua sử dụng ồ ạt các thiết bị tự động hóa, đem khoa học  - kỹ thuật hiện đại ứng dụng với quy mô lớn vào sản xuất, đã nâng cao rất nhiều lần năng suất lao động. Vì thế, họ thuê ít công nhân hoặc không thuê công nhân điều khiển máy móc mà vẫn có thể giành được GTTD nhiều hơn. Sự thực đó cũng không thể phủ định lý luận giá trị lao động và nguyên lý cơ bản của lý luận GTTD, tức là giá trị và GTTD đều do lao động sống của người lao động sáng tạo ra, lao động sống là nguồn gốc duy nhất của giá trị và GTTD. Các yếu tố sản xuất khác (máy móc, thiết bị, kỹ thuật, công nghệ,... kể cả người máy) đều không tạo ra giá trị và GTTD.

Trong nền kinh tế công nghiệp trước đây đã như thế thì ngày nay, trong điều kiện kinh tế tri thức cũng như vậy. Ai cũng biết, khoa học - kỹ thuật và thiết bị tự động hóa, cùng yếu tố sản xuất khác đều là sản phẩm lao động và có giá trị, đều thuộc về TLSX và điều kiện vật chất không thể thiếu trong quá trình sản xuất TBCN. C. Mác chưa bao giờ phủ định “tác dụng quan trọng” của tư liệu lao động trong quá trình sản xuất. Khi trình bày sự hình thành giá trị và làm tăng thêm giá trị, C. Mác khẳng định tiền đề của nó là TLSX (nguyên liệu và tư liệu lao động) không thể thiếu của sản xuất GTTD.

Dù máy móc tự động hóa đã thay thế lao động trực tiếp và một bộ phận lao động trí óc của con người, nhưng không thay thế được địa vị lao động của con người, càng không thể thay đổi địa vị chủ thể của con người trong quá trình sản xuất.

Do đó, bất cứ lao động nào, dù là lao động giản đơn hay lao động trí tuệ mà không được trả công tương xứng với giá trị mà lao động đó sáng tạo ra (sau khi trừ các khoản chi phí cần thiết) trong TBCN đều bị bóc lột GTTD.

Hai là, cơ cấu lao động xã hội ở các nước tư bản phát triển hiện nay có sự biến đổi lớn. Hàm lượng chất xám (sự đầu tư trí tuệ của công nhân, trí thức, kỹ thuật lập trình, nhà khoa học phát minh, sáng chế, nhà quản trị và công nghệ hiện đại), nên lao động phức tạp, lao động trí tuệ tăng lên và thay thế lao động giản đơn, lao động cơ bắp, dẫn đến lao động trí tuệ, lao động có trình độ kỹ thuật cao ngày càng có vai trò quyết định trong việc sản xuất ra GTTD. Thu nhập chủ yếu của nhà tư bản trong điều kiện kinh tế tri thức cũng không phải công quản lý mà từ phần lao động thặng dư của người lao động làm thuê, chủ yếu là lao động trí tuệ, nhà tư bản chiếm lấy. Chính nhờ sử dụng lực lượng lao động này mà tỷ suất và khối lượng GTTD đã tăng lên rất nhiều. 

Sự điều chỉnh của CNTB độc quyền nhà nước và của CNTB độc quyền nhà nước quốc tế đã làm cho sự bóc lột GTTD mang tính hai mặt: vừa tăng cường, vừa hạn chế. Tăng cường vì có môi trường đầu tư thuận lợi: cung cấp TLSX, chỉ dẫn và định hướng quá trình sản xuất GTTD; điều chỉnh dòng chảy GTTD tư bản hóa,... Hạn chế vì sử dụng các luật lệ, chính sách để điều chỉnh khi sự bóc lột của các công ty tư bản “quá ngưỡng” có thể xảy ra nguy cơ xung đột về chính trị và xã hội. Ngày nay, sự điều tiết phân phối GTTD của các nhà tư bản qua thuế, quỹ phúc lợi xã hội, bảo hiểm xã hội, trợ cấp thất nghiệp,... cũng tạo nên một số thu nhập nào đó cho người lao động.

Sự xuất hiện chế độ sở hữu hỗn hợp với sự hiện diện của các công ty cổ phần, trong đó đại bộ phận là sở hữu tư nhân tư bản với một bộ phận nhỏ cổ phần của người lao động đã làm giảm đi một phần nào tính gay gắt của mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất xã hội với chế độ sở hữu tư nhân TBCN về TLSX. Trong lĩnh vực quản lý và phân phối cũng có những điều chỉnh đáng kể. Việc cho người công nhân được mua cổ phiếu, tham dự hội nghị cổ đông, việc giảm thiểu thời gian lao động trong tuần,... dường như là chiếc van điều áp, giảm thiểu mâu thuẫn giữa tư bản và lao động.

Nhưng đó là cách nhìn phiến diện, không thấy đằng sau, phía trước sự phát triển ấy là gì. Trước hết phải thấy rằng, CNTB đã có nhiều thế kỷ phát triển, bánh xe vận hành của nó đã lăn đi trong máu và nước mắt của nhân dân lao động trên trái đất này. Tê-ry I-gơ-le-tơn - học giả người Anh đã nhận định: “Những nước tư bản hiện đại là kết quả của một lịch sử nô dịch, diệt chủng, bạo lực và bóc lột một cách ghê tởm”(1). Lật lại các trang lịch sử của nó là sẽ thấy những gì mà chế độ tư bản đã đối xử với đồng loại của mình. Vì chế độ thực dân xâm lược mà cuối thế kỷ XIX, hàng chục triệu người Ấn Độ, các nước châu Phi, Trung Quốc, Bra-xin, Triều Tiên, Nga, Việt Nam và nhiều nước khác đã chết do đói, hạn hán, dịch bệnh. Và ngay trong lòng các nước tư bản giàu có hiện nay, ai dám chắc mọi người dân đều có cuộc sống tốt đẹp? Nếu khẳng định được thì tại sao ngay tại nước Mỹ hùng mạnh, phát triển, hiện đại, vẫn còn tồn tại các khu nhà ổ chuột của người da đen và người nhập cư?

Ba là, điểm cần lưu ý, xem xét quan hệ bóc lột của CNTB ngày nay không chỉ bó hẹp trong quan hệ giữa nhà tư bản và người lao động làm thuê ở các nước TBCN, mà phải xem xét cả quan hệ thống trị, bóc lột của các nước phát triển với các nước kém và đang phát triển, thể hiện ở sự phân hóa hai cực: giàu, nghèo của thế giới. Bởi vì, sự bóc lột GTTD của CNTB đã mang “tính quốc tế”.

Chủ nghĩa tư bản đã có nhiều thế kỷ phát triển, bánh xe vận hành của nó đã lăn đi trong máu và nước mắt của nhân dân lao động trên trái đất này _Ảnh: Tư liệu

Ngày nay, trong điều kiện toàn cầu hóa, CNTB độc quyền nhà nước quốc tế, thông qua các hình thức, như xuất khẩu tư bản, di chuyển lao động từ nước này sang nước khác, việc bành trướng của các công ty xuyên quốc gia, tình trạng bất bình đẳng trong các quan hệ thương mại quốc tế, sự xuất hiện cái gọi là chủ nghĩa thực dân kinh tế, sự áp đặt chính sách giữa Đông và Tây, giữa các nước giàu với các nước nghèo,... khiến cho việc sản xuất GTTD mang tính quốc tế, được tư bản hóa, được xuất khẩu để quốc tế hóa tư bản với sự đa dạng của các hình thức sản xuất ra nó.

Bốn là, những sự “điều chỉnh” để thích ứng của CNTB tuy có tác động tới sự phát triển, song đưa lại hệ quả xấu là khoét sâu thêm khoảng cách giữa giàu và nghèo, làm cho các nước nghèo ngày càng nghèo hơn, các nước giàu ngày càng giàu hơn. Tích tụ tư bản và bóc lột công nhân là hai quá trình thực tế không tách rời nhau. Điều đó được xác nhận qua sự thành lập các tập đoàn kinh tế khổng lồ trên cơ sở tăng cường bóc lột bằng những phương thức mới, qua nạn thất nghiệp phổ biến đang trở thành hiện tượng kinh niên. Mặt khác, điều đó cũng xác nhận cho học thuyết của C. Mác khi nói rằng đi kèm sự phát triển của CNTB là hiện tượng tăng tư bản bất biến (dùng để mua TLSX) và giảm tư bản khả biến (dùng để mua lao động). Vì thế “đội quân hậu bị” trở thành yếu tố thuộc về bản chất của CNTB. Sự phân cực trong vấn đề tài sản tự nó là biểu hiện của tình trạng bất bình đẳng xã hội ngày càng tăng ở mỗi nước và trên phạm vi thế giới. Cực tích tụ của cải và cực tích tụ đói nghèo là hai mặt của một đồng tiền tư bản ở từng nước và trên phạm vi thế giới. Theo báo cáo của Tổ chức phi chính phủ Oxfam được công bố trong bối cảnh các lãnh đạo chính trị và kinh tế thế giới tham dự Diễn đàn Kinh tế Thế giới diễn ra tại Đa-vốt, Thụy Sĩ từ ngày 21-1 đến ngày 25-1-2019, 26 tỷ phú giàu nhất thế giới đang nắm lượng tài sản tương đương tổng tài sản của 3,8 tỷ người nghèo nhất thế giới trong năm 2018. Báo cáo trên còn cho biết, ước tính 1% người giàu nhất thế giới đang nắm giữ 42% tài sản của thế giới; trong khi đó, 99% dân số còn lại chỉ nắm giữ 58% tài sản thế giới(2).

Hiện nay, trong phạm vi quốc gia, CNTB hiện đại cố gắng xây dựng một hệ thống pháp luật đa dạng, phổ cập trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo điều kiện cho quá trình “điều chỉnh” của CNTB tư nhân đối với các quá trình kinh tế. Để điều hòa các mâu thuẫn hiện tại của nó, CNTB tập trung giải quyết các vấn đề kinh tế nhằm thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất. Động thái này được tiến hành trong sự kết hợp với việc nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm và hiệu quả sản xuất, giảm bớt chi phí xã hội, mở rộng môi trường cạnh tranh,... Vì thế, việc nhà nước tư sản ở các nước công nghiệp phát triển chiếm hữu và phân phối từ 30%  - 60% thu nhập quốc dân và sử dụng một phần từ siêu lợi nhuận thu được để trả công cho người lao động dễ tạo ra trong người lao động một “ảo giác” về tình trạng không bị bóc lột.

Những phân tích trên đây chưa thể nói lên tất cả những mâu thuẫn, xung đột ngày càng gay gắt trong lòng xã hội tư bản hiện nay, nhưng cũng đã phác họa được bức tranh khái quát về những hình thức biểu hiện mới của vấn đề bóc lột của tư bản đối với lao động trên toàn thế giới. Nhưng, dù những hình thức bóc lột có biến tướng, tinh vi đến mức nào chăng nữa thì bản chất bóc lột của tư bản đối với lao động vẫn là bóc lột GTTD - tức là bóc lột lao động sống của người lao động chứ không thể bóc lột lao động “chết” của máy móc được. Do vậy, nói một cách khác, học thuyết GTTD vẫn còn nguyên giá trị, CNTB vẫn giữ nguyên bản chất bóc lột của nó.

Luận điểm của C. Mác và Ph. Ăng-ghen về chế độ người bóc lột người trong xã hội tư bản vẫn giữ nguyên giá trị khoa học. Mặc dù đã có sự thay đổi và điều chỉnh, song có thể khẳng định: bản chất bóc lột của CNTB không thay đổi; khi nào những mâu thuẫn trong lòng xã hội tư bản còn tồn tại thì khi ấy, học thuyết GTTD vẫn sẽ mãi là ánh sáng chỉ đường cho sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân và loài người khỏi mọi hình thức nô dịch, áp bức, bóc lột của CNTB./.

------------------------------

(1) Terry Eagleton: Tại sao Mác đúng?, Nxb. Chính trị - Hành chính, Hà Nội, 2012, tr. 40
(2)  https://vietnam.oxfam.org/press_release/b% báo-cáo-oxfam-tại-davos-lợi-ích-công-hay-tài-sản-tư


Bóc trần chiêu trò lợi dụng “dân chủ” thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” để chống phá Đảng, Nhà nước ta

PGS, TS. NGUYỄN XUÂN TÚ
Đại tá, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
11:00, ngày 05-05-2020

TCCS - Tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch ra sức chống phá cách mạng Việt Nam trên lĩnh vực tư tưởng - lý luận bằng các quan điểm sai trái, thù địch; trong đó, tập trung đòi Việt Nam phải thực thi thứ “dân chủ” của họ. Đặc biệt, trong dịp chúng ta chuẩn bị tiến hành đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng, các thế lực thù địch lại càng chống phá quyết liệt hơn. Vậy đằng sau chiêu bài “dân chủ” mà các thế lực thù địch rêu rao là gì?

Năm 2020 là năm tổ chức đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng, các thế lực thù địch lại càng lợi dụng vấn đề "dân chủ" để chống phá ta quyết liệt hơn (Trong ảnh: Các đại biểu dự đại hội Đảng thực hiện quyền dân chủ bầu ban chấp hành đảng bộ khóa mới) _Nguồn: baoquangninh.com.vn

Đằng sau luận điệu đòi “dân chủ” ở Việt Nam hiện nay?

Cách đây 30 năm, trong bối cảnh chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô đứng trên bờ vực của sự đổ vỡ, ngày 18-12-1990, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ L.I.Gơn-bơ-giơ đã không úp mở, đặt ra bốn điều kiện về “dân chủ hóa” để họ viện trợ kinh tế cho các nước xã hội chủ nghĩa: 1- Tiến tới đa nguyên chính trị, chấm dứt sự độc quyền của Đảng Cộng sản; 2- Làm xuất hiện kinh tế thị trường, một khu vực kinh tế tư nhân quan trọng; 3- Tăng cường việc tôn trọng quyền con người ở các nước này; 4- Mỗi nước này có thái độ sẵn sàng xây dựng quan hệ hữu nghị với Mỹ. Tiếp đó, ngày 11-7-1995, trong tuyên bố Hoa Kỳ chính thức bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, Tổng thống B. Clin-tơn khẳng định, việc bình thường hóa và tăng cường các cuộc tiếp xúc giữa người Mỹ và người Việt Nam “sẽ thúc đẩy sự nghiệp tự do ở Việt Nam như đã từng diễn ra ở Đông Âu và Liên Xô trước đây”. Nhất quán và tiếp tục theo đuổi lộ trình về thúc đẩy “dân chủ hóa”, “tự do hóa” trong chiến lược “diễn biến hoà bình” đối với các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, trong đó Việt Nam là một trọng điểm, các thế lực thù địch triệt để sử dụng chiêu bài “dân chủ” để phá hoại sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo, áp đặt “dân chủ”, “tự do” theo tiêu chí của phương Tây, âm mưu đưa Việt Nam từng bước theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa.

Đẩy mạnh chống phá cách mạng Việt Nam thông qua chiến lược “diễn biến hòa bình”, trong thời gian gần đây, các thế lực thù địch tung ra nhiều luận điệu đòi thực thi cái gọi là “dân chủ”, “tự do”. Trước hết, họ tung hô, cổ súy nhiều nhất, quyết liệt nhất là việc đòi Việt Nam phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập để “có dân chủ và phát triển”. Họ cho rằng, “đa đảng là dân chủ, độc đảng là độc tài”; “Việt Nam phải đa đảng đối lập để có dân chủ thực sự”; “muốn thực sự có dân chủ cho người dân và phát triển xã hội phải thực hiện đa nguyên, đa đảng... Các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc rằng Đảng Cộng sản Việt Nam “không chịu đổi mới về chính trị” và đưa ra quan niệm sai lầm khi đồng nhất giữa “đa nguyên, đa đảng” với “đổi mới chính trị”  Họ quy kết hàm hồ rằng: “Độc tài, đảng trị là cái gốc sai chính của nhà cầm quyền Việt Nam hiện tại” và đưa ra “lời khuyên” rằng, “Đảng chỉ nên giữ vai trò lãnh đạo chính trị, không nên và không thể lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối”. Các thế lực thù địch đòi Việt Nam phải xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp quy định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, bởi họ cho rằng, “sự độc đảng này được xác định trong Điều 4 Hiến pháp hiện hành khiến nhà cầm quyền không hề có cạnh tranh và không sợ bị thay thế”, do đó mà không có “dân chủ”.

Cùng với tập trung đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, đòi Đảng Cộng sản Việt Nam phải từ bỏ quyền lãnh đạo cách mạng, các thế lực thù địch sử dụng chiêu bài “dân chủ” với mưu toan xóa bỏ chế độ chính trị hiện hành, đưa đất nước theo mô hình dân chủ tư sản. Họ vu khống rằng, “thể chế chính trị ở Việt Nam hiện nay là toàn trị”, “độc đoán”; “duy trì quyền lực chính trị bằng các công cụ, như cảnh sát, thực hiện bắt bớ, đàn áp những người không ủng hộ Nhà nước, ngăn cấm tự do thông tin, tự do hội họp, tự do báo chí, ngôn luận...”, vì thế mà không có “dân chủ”. Theo đó, các thế lực thù địch đòi “Việt Nam hiện nay phải chuyển đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ”, mà “dân chủ” phải bảo đảm được ba yếu tố: Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; bầu cử tự do; tư pháp độc lập, trong đó yếu tố đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập là quyết định nhất.

Không chỉ dừng lại ở những luận điệu xảo trá nêu trên, các thế lực thù địch còn thổi phồng những sai lầm, thiếu sót về đường lối và chỉ đạo thực tiễn của Đảng trong quá khứ, đặc biệt là trên lĩnh vực quản lý kinh tế, quản lý - xã hội; đồng thời, ra sức lợi dụng khuyết điểm của một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái, tham nhũng, tiêu cực bị xử lý kỷ luật để nâng hiện tượng cá biệt thành bản chất, bôi đen chế độ, phủ nhận thành tựu công cuộc đổi mới và minh chứng cho sự cần thiết “chấm dứt vai trò lịch sử của Đảng”, rằng như thế mới có “dân chủ” và “phát triển”. Trắng trợn hơn, các thế lực thù địch ra sức hậu thuẫn cho xây dựng các lực lượng phản động, như cái gọi là “Đảng Việt tân”, “Đảng Dân chủ tự do Thiên Chúa giáo”, “Đảng Dân chủ tự do Phật giáo”..., mưu toan hình thành lực lượng đối lập để từng bước thực thi thứ “dân chủ” của họ trong xã hội Việt Nam.

Sử dụng chiêu bài “dân chủ”, các thế lực thù địch ra sức cổ xúy những phần tử cơ hội về chính trị ở trong nước, các tổ chức nước ngoài thù địch với Việt Nam ra sức công kích Đảng và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, qua đó để “cấy” vào trong đời sống xã hội Việt Nam tư tưởng tự do, dân chủ tư sản, hòng tạo dựng mầm mống thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” sang quỹ đạo dân chủ tư sản. Họ luôn gắn vấn đề “dân chủ” với vấn đề “tôn giáo”, “dân tộc”, “nhân quyền”, vu khống Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền trong thực hiện chính sách đối với các tôn giáo và các dân tộc thiểu số; trắng trợn xuyên tạc Việt Nam đàn áp tôn giáo và dân tộc thiểu số. Cũng bằng chiêu bài “dân chủ”, các thế lực thù địch ra sức chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mâu thuẫn, kích động hận thù giữa các dân tộc, các tôn giáo, tạo ra những bức xúc trong xã hội, hoài nghi trong dư luận, chia rẽ quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước. Đặc biệt, trong thời gian gần đây, các thế lực thù địch lợi dụng tình hình khiếu kiện, các “điểm nóng”, nhất là vụ việc ở xã Đồng Tâm (huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội) để phát tán các tài liệu tuyên truyền tư tưởng tự do, dân chủ tư sản, vu khống, công kích Đảng, Nhà nước Việt Nam vi phạm dân chủ; từ đó, hướng vào đòi xóa bỏ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã và đang xây dựng; gieo rắc tư tưởng dân chủ tư sản trong đời sống xã hội.

Như vậy, có thể thấy, các thế lực thù địch đã sử dụng chiêu bài “dân chủ” làm khâu đột phá trong chiến lược “diễn biến hòa bình” để chống phá Việt Nam. Đằng sau tất cả những luận điệu tuyên truyền, hoạt động cả trực diện và không trực diện, đều hướng vào đòi thực thi thứ “dân chủ” ấy; trong đó, mục tiêu hàng đầu và mấu chốt của các thế lực thù địch là đòi thực hiện chế độ đa đảng, phủ nhận vai trò lãnh đạo, tiến tới loại bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam ra khỏi tiến trình phát triển của dân tộc. Đây chính là mưu đồ hết sức thâm độc, nham hiểm và trắng trợn của các thế lực thù địch.

Quân đội nhân dân Việt Nam hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân (Trong ảnh: Bộ đội giúp nhân dân trong mưa lũ)_Ảnh: Thanh Miền


Không thể chấp nhận cái gọi là “dân chủ” của các thế lực thù địch

Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn cho phép chúng ta khẳng định dứt khoát rằng, ở nước ta không cần và không thể chấp nhận thứ “dân chủ” mà các thế lực thù địch đang muốn áp đặt vào Việt Nam.

Trên phương diện lý luận, chúng ta đều biết, dân chủ là phạm trù lịch sử, xuất hiện khi có nhà nước và mỗi nền dân chủ phải gắn với một nhà nước nhất định, được pháp luật quy định. Lịch sử phát triển của nhân loại đã chứng minh rằng, dân chủ xuất hiện và phát triển với tính chất là sản phẩm trực tiếp của đấu tranh giai cấp, đấu tranh xã hội, giải phóng loài người. Trong xã hội có giai cấp, tuyệt đối không thể có thứ dân chủ chung chung, phi giai cấp. Dân chủ tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và trình độ dân trí trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Về điều này, C. Mác đã chỉ rõ: “Quyền không bao giờ có thể ở một mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hóa của xã hội do chế độ kinh tế đó quyết định”(1). Theo V.I. Lê-nin, điều cốt tử nhất khi bàn đến vấn đề dân chủ là phải trả lời được câu hỏi, dân chủ của ai, cho ai và vì ai? Tự do cho ai và vì ai? Bởi vì, trong xã hội có giai cấp, dân chủ, tự do đối với bọn bóc lột có nghĩa là để áp bức những người bị bóc lột.

Từ lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy, nền dân chủ tư sản là một nấc thang đánh dấu sự phát triển đáng kể của dân chủ, nhưng toàn bộ thiết chế của nền dân chủ tư sản, từ việc tổ chức nhà nước đến các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện đều chỉ nhằm mục đích cao nhất là bảo vệ sự thống trị của giai cấp tư sản, bảo vệ quyền sở hữu, lợi ích của giai cấp tư sản, truyền bá tư tưởng tư sản chống lại tư tưởng tự do, dân chủ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Theo V.I. Lê-nin, nền dân chủ tư sản là nền dân chủ của một thiểu số những kẻ giàu có, dân chủ của giai cấp tư sản, do giai cấp tư sản, vì giai cấp tư sản chứ không phải dân chủ cho đa số nhân dân lao động. Còn dân chủ xã hội chủ nghĩa là sự thay thế dân chủ tư sản trong nấc thang phát triển cao hơn của xã hội loài người tuân theo quy luật khách quan. Đó là nền dân chủ “gấp triệu lần” dân chủ tư sản. Bản chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa thể hiện trên các phương diện chủ yếu: 1- Là nền dân chủ của nhân dân lao động, vì nhân dân lao động, thể hiện ở việc bảo vệ quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của nhân dân lao động; 2- Dân chủ xã hội chủ nghĩa thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do được bảo đảm về mặt pháp lý để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân; 3- Dân chủ xã hội chủ nghĩa có nội dung toàn diện, thể hiện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ý thức - tư tưởng, trong đó nổi bật là sự tham gia một cách bình đẳng và ngày càng rộng rãi của những người lao động vào công việc quản lý nhà nước và xã hội thông qua hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Tiêu chí cơ bản của dân chủ xã hội chủ nghĩa là nhân dân là chủ và làm chủ.

Xét từ bản chất của dân chủ tư sản - thứ “dân chủ” mà các thế lực thù địch đang muốn áp đặt vào Việt Nam và tính ưu việt của dân chủ xã hội chủ nghĩa, thì việc lựa chọn tất yếu ở Việt Nam là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Việt Nam hiện nay không cần và không chấp nhận dân chủ tư sản. 

Trên phương diện thực tiễn, dân chủ là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển đất nước. Chúng ta đã và đang hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Quan điểm cho rằng, phải có đa đảng mới “có dân chủ và phát triển” là hoàn toàn sai lầm. Trên thực tế, thể chế nhất nguyên một đảng lãnh đạo hoàn toàn không đồng nghĩa với mất dân chủ, kém phát triển và kém dân chủ; dân chủ không đồng nghĩa với đa nguyên, đa đảng. Trên thế giới hiện nay, có không ít nước đa đảng nhưng vẫn mất dân chủ, vẫn là những nước nghèo, kém phát triển nhất; ngược lại, có những nước chỉ có một đảng lãnh đạo, nhưng dân chủ được bảo đảm, kinh tế - xã hội phát triển, đời sống nhân dân sung túc. Điều đó minh chứng rằng, đa nguyên, đa đảng không phải là cứu cánh cho dân chủ và sự phát triển. Đúng như đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Không phải có nhiều đảng thì dân chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ hơn”(2).

Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam - Đảng của giai cấp công nhân, đồng thời của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc ra sức hy sinh, phấn đấu cho nền dân chủ cao đẹp nhất mà loài người từ xưa đến nay khát khao vươn tới  - nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Chín mươi năm qua, với tư cách một đảng mác-xít chân chính, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, đưa nhân dân từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Cũng từ lịch sử nhân loại cho thấy một thực tế đau xót đối với cách mạng thế giới, đó là sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu vào những năm 1989  - 1991. Đặc biệt, ở Liên Xô, dưới tác động của âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, trong đó có chiêu bài “dân chủ”, cùng sự phản bội của một số lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước đã dẫn tới hậu quả: Đại hội bất thường của các đại biểu nhân dân, ngày 15-3-1990 quyết định xóa bỏ Điều 6 Hiến pháp Liên Xô về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô. Bắt đầu từ điểm mốc này đã hình thành chế độ đa đảng ở Liên Xô với vô số tổ chức, đảng phái chính trị “mọc lên như nấm”, trở thành các lực lượng chính trị đối lập, cạnh tranh với Đảng Cộng sản Liên Xô, để rồi dẫn tới một kết cục bi thảm: Đảng Cộng sản Liên Xô mất quyền lãnh đạo đất nước.

Các lập luận cổ vũ cho chế độ đa đảng ở Việt Nam thường lấy khuôn mẫu các nước tư bản phương Tây làm ví dụ minh chứng mà không hề quan tâm đến đặc điểm lịch sử - văn hóa, trình độ phát triển, tương quan lực lượng chính trị trong xã hội. Một số người do thiếu hiểu biết nên ít nhiều đã bị tiêm nhiễm bởi những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, lầm tưởng cứ có nhiều đảng cạnh tranh thì sẽ dân chủ hơn, xã hội phát triển hơn. Hãy nhìn sang một số nước tư bản hiện nay, nhất là nước Mỹ với sự tồn tại của 112 đảng, nhưng chỉ có hai đảng (Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa) thay nhau cầm quyền. Tuy bề ngoài là chế độ đa đảng đối lập, nhưng xét về bản chất chỉ là một đảng  - đảng của giai cấp tư sản. Vì thế, dù Đảng Dân chủ hay Đảng Cộng hòa nắm quyền thì cũng đều là đảng của giai cấp tư sản, đại diện cho lợi ích của giai cấp tư sản; dân chủ ở Mỹ không phải thứ gì khác ngoài nền dân chủ tư sản, nền dân chủ chỉ dành cho thiểu số người giàu có trong xã hội. Điều này cũng dễ hiểu, tại sao ở Mỹ, bên cạnh một xã hội với thiểu số những người có cuộc sống xa hoa, hào nhoáng thì vẫn còn tồn tại một xã hội hoàn toàn đối lập, gồm hàng chục triệu người đang phải sống trong sự bất công, thất nghiệp, đói nghèo, bệnh tật và không được là chủ, làm chủ,... Chính người Mỹ - Giáo sư Trường Đại học In-đi-a-na, Pôn Mi-slơ (Paul Mishler) đã chỉ rõ nguyên nhân của tình trạng này: Mọi đói nghèo, thất nghiệp, thất học,... đều do lỗi của hệ thống, lỗi từ chủ nghĩa tư bản Mỹ gây ra; nước Mỹ tự xưng là đa đảng, nhưng thực chất chỉ là một đảng, đó là đảng của chủ nghĩa tư bản(3), cho dù là Đảng Cộng hòa hay Đảng Dân chủ.

Như vậy, thực chất luận điệu cốt yếu nhất “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” để chuyển từ chế độ “toàn trị” sang “dân chủ”, để có “dân chủ và phát triển” là mang tính chất mị dân, phản động, hết sức nguy hiểm, bởi rất dễ gây nên sự ngộ nhận, nhất là đối với những người có nhận thức hạn chế; từ đó, có thể gây nên sự mơ hồ, lẫn lộn, dẫn tới sự dao động về tư tưởng, hoài nghi, phân tâm trong xã hội; làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những luận điệu này hướng vào xóa bỏ, gây nên những khó khăn nhất định trong quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đe dọa mất ổn định chính trị - xã hội gây mầm cho mâu thuẫn và xung đột xã hội chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc...

Mục tiêu của các thế lực thù địch khi cổ xúy cho cái gọi là “dân chủ” là nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ thành quả cách mạng, hướng lái đất nước theo nền dân chủ tư sản, tước đi quyền làm chủ của nhân dân đã giành được bằng xương máu của nhiều thế hệ. Để không xảy ra những hậu quả tai hại đó, thì ở Việt Nam hiện nay nhất thiết không cầnkhông thể chấp nhận cái gọi là “dân chủ” mà các thế lực thù địch thường xuyên rêu rao, kích động!

----------------------------------

(1) C. Mác - Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 19, tr. 36
(2) Dẫn theo Thông tấn xã Việt Nam, ngày 26-2-2010
(3) Xem: Mai Hoàng Kiên: “Dân chủ phụ thuộc vào lý tưởng và bản chất chính trị của đảng cầm quyền”, http://nhandan.com.vn, ngày 7-3-2013


Xây dựng đội ngũ cán bộ trên lĩnh vực đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh hiện nay

TS. NGUYỄN HUY PHÒNG
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
17:22, ngày 22-04-2020

TCCS - Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu hiện nay của Đảng ta. Để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ đặc biệt này thì công tác xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng có tài, có tâm, có tầm nhìn và bản lĩnh, ý chí cách mạng được xem là nhân tố đặc biệt quan trọng, nhất là trong bối cảnh hiện nay.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn cán bộ là gốc của mọi công việc. Đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên mặt trận tư tưởng, lý luận, việc xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng. Chất lượng, hiệu quả của đội ngũ cán bộ sẽ là một trong những nhân tố quan trọng hàng đầu bảo đảm sự ổn định và phát triển của Đảng, của chế độ.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng làm việc với Ban Tuyên giáo Trung ương, năm 2018 _Ảnh: TTXVN

Yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” nhấn mạnh, xây dựng lực lượng chuyên trách theo hướng tinh gọn, đủ mạnh; đồng thời, phát huy cao nhất trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, trước hết là người đứng đầu trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch... Phát huy tốt vai trò của các lực lượng tác chiến không gian mạng, an ninh mạng.

Như vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch được xác định là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó lực lượng cán bộ tuyên giáo các cấp là nòng cốt; đây cũng là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp, của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, của từng cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu.

Lịch sử từng chứng minh rằng trong bất kỳ cuộc đấu tranh nào, nhất là cuộc đấu tranh “không tiếng súng” trên mặt trận tư tưởng, văn hóa, văn nghệ, yếu tố con người giữ vai trò quan trọng. Khi lực lượng này hùng hậu, tinh nhuệ, nhạy bén, có trình độ, nghiệp vụ, am hiểu lĩnh vực sẽ tạo sức mạnh như những “lá chắn”, “tấm phên dậu” vững mạnh để các thế lực thù địch không thể, không dám tuyên truyền hay có những hành vi kích động, chống phá Đảng, chính quyền, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Hiện chưa có con số thống kê cụ thể về số lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội từ Trung ương đến địa phương (cấp huyện) hưởng lương trong biên chế và làm việc trực tiếp trong lĩnh vực đặc thù này. Ở các ban Đảng, cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, đội ngũ làm công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch thường tập trung ở những cơ quan chuyên trách, như Ban Tuyên giáo, Ban Dân vận, Hội đồng Lý luận Trung ương, Hội đồng Lý luận, phê bình văn học nghệ thuật Trung ương, Bộ Công an (Cục An ninh, văn hóa, thông tin, truyền thông - A87), các học viện (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị Công an nhân dân, Học viện Chính trị thuộc Bộ Quốc phòng...), Tạp chí Cộng sản, các viện nghiên cứu, các khoa chuyên môn ở các trường đại học, các cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình...

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt, lâu dài trong quá trình phát triển của Đảng, vì thế đội ngũ cán bộ làm công tác này luôn được quan tâm, bổ sung, tăng cường, làm việc theo chế độ chuyên trách với các chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành.

Với yêu cầu, nhiệm vụ của tình hình mới, đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đã và đang đổi mới, được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nắm chắc địa bàn, lĩnh vực phụ trách, có nhiều đóng góp lớn vào sự ổn định, phát triển của tình hình chính trị - xã hội của đất nước. Tuy nhiên, có thể thấy đội ngũ làm công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận hiện nay ở nước ta còn mỏng, thiếu và chưa đồng bộ. Ngoài một số cán bộ chuyên trách còn phần lớn đội ngũ là những cán bộ kiêm nhiệm hoặc được điều chuyển từ những vị trí, chức danh công tác khác, ít liên quan đến lĩnh vực chuyên môn. Bên cạnh đó, đội ngũ này thường xuyên biến động về số lượng, cơ cấu, thiếu những chuyên gia, nhà nghiên cứu đầu ngành, có uy tín và tầm ảnh hưởng sâu rộng trong nhân dân.

Để có được những nhà khoa học, chuyên gia giỏi trong lĩnh vực này cần thời gian trau dồi, rèn luyện, trải nghiệm thực tiễn và sự tận tâm, tận lực, yêu nghề của mỗi cá nhân. Trong khi đó, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, tuyển chọn cũng như cơ chế, chính sách ưu đãi cho đội ngũ làm công tác trên lĩnh vực đặc biệt quan trọng, nhạy cảm này lại chưa tương xứng, chưa đủ sức hấp dẫn để thu hút được người tài. Riêng đối với lĩnh vực văn học - nghệ thuật, một lĩnh vực nhạy cảm, tinh tế, muốn hiểu sâu và nắm vững, đòi hỏi người lãnh đạo và làm công tác định hướng, tuyên truyền phải xuất phát, đi lên từ chính đời sống văn học - nghệ thuật. Trong khi đó, thực tế có nhiều cán bộ quản lý văn học - nghệ thuật có chuyên môn từ những ngành, nghề ít liên quan đến văn học - nghệ thuật. Số lượng các nhà nghiên cứu, phê bình, lý luận văn học - nghệ thuật hiện còn mỏng.

Lĩnh vực tư tưởng, lý luận là lĩnh vực khó, đặc thù, đòi hỏi việc tuyển chọn đội ngũ phải khắt khe với những quy chuẩn về đạo đức, phẩm chất, tư cách và trình độ, kinh nghiệm chuyên môn cao. Vì thế, việc quan tâm xây dựng, củng cố lực lượng nhân sự trong các lĩnh vực này là việc làm cần thiết có ý nghĩa cấp bách.

Những nhân tố tác động đến công tác xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Trong quá trình thực thi nhiệm vụ, đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng luôn chịu sự tác động, chi phối đa chiều của những nhân tố chủ quan và khách quan đến từ trong và ngoài nước. Trước bối cảnh mới, việc xây dựng, phát triển đội ngũ làm công tác này cũng đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức.

Nhân tố khách quan

Những thập niên qua, thế giới có nhiều diễn biến phức tạp. Trên mặt trận tư tưởng, lý luận cũng có những cuộc tranh luận gay gắt giữa các trường phái, các nhà tư tưởng. Điều này đòi hỏi đội ngũ cán bộ làm công tác lý luận phải luôn nhạy bén, đưa ra những kiến giải thuyết phục với nền tảng lý luận vững chắc, tạo điểm tựa tinh thần cho người dân tin tưởng đi theo.

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với nền tảng công nghệ số, in-tơ-nét, sự ra đời của mạng xã hội toàn cầu đã đem đến cho con người lượng thông tin khổng lồ. Trên không gian mạng, các quốc gia có cơ hội xích lại gần nhau để hợp tác, trao đổi, chia sẻ vì hòa bình, thịnh vượng và sự phát triển. Đây là điều kiện thuận lợi để đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng tiếp cận những tri thức, kỹ năng mới; học tập, tiếp thu kinh nghiệm của các chuyên gia, nhà khoa học lớn để không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn. Tuy nhiên, sự bùng nổ của công nghệ thông tin với những tin tức trái chiều đến từ nhiều luồng, do nhiều thế lực thù địch chủ động tấn công cũng gây nhiều khó khăn cho đội ngũ làm công tác tư tưởng, lý luận trong việc nắm bắt tình hình, định hướng dư luận, việc đưa ra những phương án xử lý, khắc phục hiện tượng phức tạp, nhạy cảm...

Hiện trên thế giới tồn tại nhiều đảng phái chính trị với những thể chế, hệ tư tưởng khác nhau, các thế lực thù địch với âm mưu “diễn biến hòa bình” thường công kích, chống phá, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của các quốc gia, dân tộc. Vì vậy để bảo vệ, củng cố nền tảng tư tưởng của Đảng, ngoài việc hiểu sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đội ngũ làm công tác tư tưởng, lý luận của Đảng phải biết vượt qua những rào cản, hạn chế của cá nhân, tìm hiểu sâu các hệ tư tưởng, các thể chế chính trị của các quốc gia khác để vừa bảo vệ, vừa đấu tranh, sàng lọc, nhằm khẳng định những giá trị vượt trội mang tầm thời đại của những tư tưởng mà Đảng, Nhà nước ta lựa chọn, được nhân dân tin tưởng đi theo; đồng thời, bổ sung những luận điểm tư tưởng mới, phù hợp để thúc đẩy sự phát triển của quốc gia, dân tộc.

Sau gần 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng,... tạo được dấu ấn tốt đẹp với bạn bè quốc tế. Tuy nhiên với xuất phát điểm kinh tế thấp cùng truyền thống văn hóa của cư dân nông nghiệp nên thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của nước ta có thể kéo dài với nhiều khó khăn, thử thách. Cuộc đấu tranh giữa cái cũ với cái mới, giữa truyền thống và hiện đại, giữa cái lạc hậu với cái văn minh, tiến bộ diễn ra quyết liệt, dai dẳng. Trên mặt trận tư tưởng, văn hóa, văn nghệ cũng tồn tại những luồng tư tưởng đan xen, ý kiến trái chiều, phủ nhận thành tựu của công cuộc đổi mới cũng như gieo rắc những tư tưởng bi quan, hoài nghi dao động... Điều đó đòi hỏi vai trò, trách nhiệm của đội ngũ những nhà lý luận, nhà tư tưởng phải giải quyết tốt những vấn đề mà thực tiễn đang đặt ra.

Nhân tố chủ quan

Trong điều kiện Đảng cầm quyền, lãnh đạo toàn diện mọi mặt đời sống chính trị - kinh tế - xã hội - văn hóa, vấn đề tạo dựng nền tảng tư tưởng, lý luận luôn được Đảng ta quan tâm, coi đó là vấn đề trọng tâm, then chốt quyết định sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Bàn về tầm quan trọng của công tác lý luận, V. I. Lê-nin từng khẳng định, không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng... Chỉ đảng nào được một lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong. Tiếp thu tư tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đặc biệt nhấn mạnh đến công tác tư tưởng, lý luận. Trong các tác phẩm Đường kách mệnh, Sửa đổi lối làm việc, Người khẳng định, lý luận như kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế; không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi. Nhưng để học tập, tuyên truyền và vận dụng lý luận vào thực tiễn cách mạng thì phải có đội ngũ cán bộ. Vì thế trong quá trình thành lập Đảng, Người đã tổ chức nhiều lớp tập huấn, tuyển chọn, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ; thành lập các cơ quan báo chí để việc tuyên truyền được nhanh chóng, hiệu quả.

Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng và trong công cuộc xây dựng đất nước, Đảng ta luôn đề cao vai trò gương mẫu, tiên phong của đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng, lý luận - đội quân tinh nhuệ có vai trò gìn giữ “bức tường thành” của Đảng, của chế độ. Đánh giá cao vai trò của công tác tư tưởng, lý luận, văn học, nghệ thuật và đội ngũ cán bộ làm công tác này, những năm qua Đảng đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết, như Thông báo Kết luận số 94-TB/TW, ngày 30-12-2002, của Ban Bí thư, về “Tăng cường công tác đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa”; Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 16-06-2008, của Bộ Chính trị khóa X, về “Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới”; Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Bộ Chính trị, về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”... trong đó nhấn mạnh đến việc phải xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác này một cách đồng bộ, có chất lượng.

Trong điều kiện thế và lực của đất nước không ngừng được củng cố, tăng cường, đời sống vật chất, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, những chính sách về tuyển dụng, đãi ngộ nhân tài, về tiền lương và phụ cấp cho những người làm công tác tư tưởng, lý luận được cải thiện sẽ là sức hút đối những người có tài năng, có nhiệt huyết với công việc này. Tuy nhiên, bên cạnh những điều kiện thuận lợi thì bối cảnh tình hình trong nước và những hạn chế của chính đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng, lý luận của Đảng hiện cũng đang bộc lộ nhiều bất cập, tác động đến việc xây dựng, phát triển lực lượng. Sự chống phá của các thế lực thù địch diễn biến phức tạp với nhiều nhóm, đối tượng đa dạng, hoạt động trên nhiều địa bàn, lĩnh vực (trọng tâm là lĩnh vực tư tưởng, văn hóa). Các thế lực thù địch sử dụng nhiều chiến thuật, phương thức hiện đại, tinh vi lợi dụng những ưu thế vượt trội của mạng in-tơ-nét, truyền thông, sự nhẹ dạ, cả tin của một bộ phận đồng bào, sự bất mãn của một số phần tử cơ hội trong hệ thống cơ quan Đảng, Nhà nước để chống phá, gây nhiễu dư luận. Trong khi đó lực lượng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch còn mỏng, nhận thức chưa đồng đều, thiếu kinh nghiệm thực tiễn nên việc nắm bắt, dự báo và xử lý thông tin còn chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đặt ra. Mặt khác, đội ngũ này cũng đang có nguy cơ “già hóa”, thiếu đội ngũ trẻ kế cận; trình độ, thao tác tiếp cận công nghệ thông tin còn chậm; khả năng sử dụng ngoại ngữ trong khai thác, tìm kiếm, theo dõi thông tin từ những trang mạng nước ngoài còn hạn chế, gây những khó khăn nhất định trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ.

Lĩnh vực tư tưởng, lý luận là lĩnh vực đặc thù, khó khăn, không dễ tiếp cận, đòi hỏi bản lĩnh, kinh nghiệm, trong khi đó mức lương và thu nhập còn thấp nên khó hấp dẫn, thu hút được học sinh, sinh viên tham gia lựa chọn ngành công tác tư tưởng, xây dựng Đảng, chính quyền ngay từ cấp học đại học và sau đại học. Điều này gây sự thiếu hụt đội ngũ cán bộ kế cận.

Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng, đấu tranh phản bác lại các quan điểm sai trái thù địch vẫn còn nặng về lối tư duy và phương thức truyền thống, thiên về tuyên truyền miệng là chủ yếu, trong khi bối cảnh tình hình đã thay đổi, thế lực thù địch rất đa dạng, phương thức, chiêu bài tác động tinh vi, vì thế cách tuyên truyền theo mô hình, phương thức truyền thống chưa thực sự phát huy được khả năng, công dụng trong bối cảnh mới. Một số cơ quan, đơn vị làm công tác xây dựng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng còn chậm trong việc đưa ra quan điểm, lập trường; lúng túng trong xử lý những tình huống phức tạp. Việc xây dựng các tiêu chí để nhận diện các thế lực phản động, các quan điểm thù địch, sai trái còn thiếu, chưa nhất quán, đồng bộ. Các chế tài xử lý vụ, việc vi phạm còn nhẹ, thiếu tính răn đe, cảnh báo.

Do những điều kiện đặc thù của các địa phương, việc xây dựng mạng lưới trong phòng, chống, đấu tranh những quan điểm sai trái, thù địch chưa được quan tâm đúng mức. Mạng lưới này chỉ tập trung ở các đô thị, thành phố lớn, phân bổ chưa đồng đều, chưa có sự gắn kết, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, đơn vị, ngành, nghề, vùng, miền; vẫn còn tâm lý trông chờ, ỷ lại vào Trung ương. Một số ban chỉ đạo hoạt động còn nặng về hình thức, thời vụ, nhiệm kỳ, thiên về báo cáo, hành chính mà thiếu sự chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong hoạt động thực tiễn.

Tuyên truyền, vận động bà con các dân tộc thiểu số tại huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh thực hiện tốt các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước _Nguồn: quangninh.gov.vn

Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Để nâng cao chất lượng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình hiện nay cần thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, trong đó có những giải pháp cơ bản:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành về vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của đội ngũ cán bộ chuyên trách tham gia trực tiếp vào công tác xây dựng, bảo vệ nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng. Đây là đội quân tinh nhuệ, tiên phong trên mặt trận tư tưởng. Qua học tập di sản lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, qua tổng kết thực tiễn, đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải cung cấp được những luận cứ khoa học để tuyên truyền, phổ biến sâu rộng cho nhân dân hiểu sâu sắc hơn về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, về bản chất tốt đẹp của Đảng, Nhà nước ta; để người dân ngày càng vững tin vào Đảng, vào chế độ; biết cảnh giác và nhận diện rõ âm mưu, luận điệu sai trái, thù địch của các thế lực phản động ở trong và ngoài nước. Cần xác định rõ lực lượng chuyên trách (đội ngũ cán bộ tuyên giáo) và lực lượng thường xuyên (toàn thể cán bộ, đảng viên, nhân dân) để phối hợp, tập hợp lực lượng và các giai tầng một cách nhịp nhàng, có hiệu quả. Phát huy thế mạnh của từng lĩnh vực, từng cá nhân và các tổ chức chính trị - xã hội. Mặt trận tư tưởng, lý luận rất rộng lớn, sự tấn công, chống phá của các thế lực thù địch rất đa dạng, tinh vi, nhiều thủ đoạn nên đòi hỏi kinh nghiệm, bản lĩnh chính trị, chuyên môn và thế mạnh của từng cá nhân, cộng đồng trong việc chung sức, đồng lòng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, của các tổ chức, đoàn thể, tạo không gian, môi trường sống và làm việc khoa học, nhân văn, lành mạnh, vì sự phát triển của đất nước và của mỗi cá nhân.

Việc nhận thức, đánh giá đúng vai trò, vị trí của đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng sẽ kích thích, động viên những người tham gia trực tiếp vào lĩnh vực đặc biệt này có thêm động lực, niềm tin để cống hiến; từ đó có những tham vấn, góp ý hữu ích cho các cơ quan, tổ chức Đảng trong việc nhận định tình hình, hoạch định chủ trương, chính sách một cách thiết thực, hiệu quả.

Thứ hai, đẩy mạnh việc đổi mới cơ chế, chính sách trong việc phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, thu hút người tài, người có bản lĩnh, kinh nghiệm để tạo ra một lực lượng cán bộ làm công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, có sự trao truyền, nối tiếp giữa các thế hệ. Tạo môi trường hấp dẫn (về điều kiện làm việc, chính sách tiền lương, nhà ở...) để người tài yên tâm công tác, tâm huyết với nghề, có nhiều đóng góp vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh chống lại âm mưu, quan điểm sai trái của các thế lực thù địch.

Đối với lực lượng trực tiếp làm công tác tuyên giáo các cấp phải có bản lĩnh chính trị, tư tưởng vững vàng, kiên định và tuyệt đối trung thành với Đảng, có phẩm chất đạo đức, lối sống trong sáng, lành mạnh, vừa phải thật sự tinh thông, nhanh nhạy và sáng tạo. Tạo điều kiện cho họ được tham gia các khóa học tập dài hạn, ngắn hạn về cả chuyên môn nghiệp vụ và lý luận chính trị. Khuyến khích và tạo điều kiện cho cán bộ tuyên giáo chủ động, sáng tạo trong đổi mới phương thức hoạt động. Cổ vũ các phương thức hoạt động theo nhóm để có nhiều sáng kiến dự báo, giải pháp xử lý các tình huống tư tưởng; sử dụng triệt để những tiện ích, công nghệ thông tin hiện đại trong công tác tuyên giáo, trong phê phán, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch...

Thứ ba, xây dựng hệ thống tiêu chí cụ thể trong việc nhận diện những nhóm, đối tượng chống phá, thù địch. Có chế tài, hành lang pháp lý đủ mạnh để cảnh báo, xử lý, răn đe những hành vi vi phạm, đồng thời bảo vệ đội ngũ, cán bộ làm công tác đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, văn hóa. Trước mắt cần hướng dẫn và triển khai có hiệu quả Luật An toàn thông tin mạng (năm 2015), Luật An ninh mạng (năm 2018) để mọi người dân hiểu và ý thức rõ về quyền lợi, trách nhiệm của bản thân trong việc cung cấp, xử lý và tiếp nhận thông tin cũng như nhận diện, phân biệt được thông tin tốt - xấu, thật - giả trong thời đại bùng nổ của công nghệ thông tin, in-tơ-nét, mạng xã hội, từ đó có phương thức bảo vệ an toàn cho bản thân và các cơ quan, tổ chức.

Thứ tư, nâng cao phẩm chất, bản lĩnh chính trị cách mạng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, khả năng tiếp cận in-tơ-nét, mạng xã hội, thành thạo ngoại ngữ; tiên phong trong nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng để đáp ứng yêu cầu trong bối cảnh phức tạp hiện nay. Đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải tạo được niềm tin và uy tín đối với cộng đồng thông qua những bài viết, bài phát biểu, qua những hành động cụ thể mang tính thiết thực, sắc về lý luận và sâu về thực tiễn, xứng đáng là đội quân tinh nhuệ, là lực lượng xung kích, tiên phong của Đảng trên mặt trận đầy chông gai, thử thách nhưng cũng rất vinh quang, tự hào./.


Không thế lực nào có thể chia cắt nghĩa đồng bào - mọi mưu đồ chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhất định thất bại

PGS, TS. TRầN HậU
Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
15:56, ngày 03-04-2020

TCCS - Đoàn kết dân tộc là quy luật muôn đời để dựng nước và giữ nước, là nguồn sức mạnh tạo nên mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, là đường lối chiến lược của Đảng và Nhà nước ta. Một trong những trọng điểm mà các thế lực thù địch, phản động tập trung mũi nhọn chống phá sự nghiệp đổi mới là chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc bằng nhiều âm mưu, thủ đoạn tinh vi. Cần phải bóc trần những âm mưu, thủ đoạn này để từng cán bộ, đảng viên và nhân dân nâng cao cảnh giác và đấu tranh kiên quyết.

Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/Thành công, thành công, đại thành công”. Câu nói mộc mạc và súc tích ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự tổng kết và khái quát ở tầm cao của trí tuệ, nêu lên một quy luật và khẳng định truyền thống văn hóa hàng ngàn năm lịch sử trường tồn của dân tộc Việt Nam. Nhờ có đoàn kết đồng lòng mà 54 tộc người cùng chung sống trên mảnh đất không rộng lắm, người không đông lắm, trình độ phát triển về kinh tế còn khó khăn, nhưng đã vượt qua bao gian lao, thử thách, chống chọi được với thiên tai, địch họa, bảo vệ giang sơn, bờ cõi, thống nhất non sông, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, và đang chung sức, chung lòng xây dựng đất nước ta ngày một đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.

Bác Hồ với đồng bào các dân tộc Việt Nam (tranh lụa của họa sĩ Trần Minh Thái) _Ảnh: Tư liệu

Dân tộc nào cũng có truyền thống đoàn kết để sinh tồn và phát triển, song truyền thống đoàn kết của dân tộc ta có những nét đặc thù. Đó là cuộc sống xen kẽ giao hòa của dân cư một đất nước đa tộc người, đa tôn giáo, luôn phải biết chia sẻ giá trị, tôn trọng lẫn nhau những khác biệt. Đó là những cuộc vật lộn liên miên để chống chọi với thiên tai vô cùng khắc nghiệt và chiến đấu oanh liệt chống đủ loại chiến tranh xâm lược hòng thôn tính lãnh thổ và nô dịch dân tộc ta. Đó còn là quá trình tự ý thức về giá trị văn hóa thuộc về bản sắc dân tộc Việt Nam, một dân tộc ngay từ khi hình thành đã mang tính cố kết cộng đồng cao.

Nghiên cứu chiều sâu của đoàn kết dân tộc mới thấy rõ ý nghĩa trọng đại, có tầm lý luận cao và ý nghĩa thực tiễn mà Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng đã tổng kết thành bài học thứ ba trong năm bài học lớn của cách mạng nước ta và của cả quá trình phát triển của lịch sử dân tộc, đó là: Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Cương lĩnh của Đảng đã chỉ rõ các cấp độ đoàn kết có quan hệ biện chứng với nhau, kết hợp với nhau một cách hữu cơ, tạo thành một tổng hợp lực để sản sinh ra sức mạnh vô địch không thế lực nào phá vỡ nổi. Nhờ sức mạnh đó mà sự nghiệp chính nghĩa ắt giành được thành công từ nhỏ đến lớn, đi tới thắng lợi cuối cùng, cho dù phải trải qua sóng gió, thử thách, thậm chí vấp phải khó khăn, thất bại tạm thời. Bài học lịch sử đó bác bỏ một cách đanh thép mọi luận điệu của các thế lực thù địch hòng xuyên tạc, bôi nhọ đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc; khẳng định chắc chắn rằng, đoàn kết là một truyền thống rất quý báu và vững chắc, một giá trị văn hóa và tinh thần vô cùng quý báu, là đường lối chiến lược mang tính lâu dài, là quy luật sinh tồn và phát triển của toàn dân tộc.

Sự tổng kết trong Cương lĩnh hoàn toàn xuất phát từ thực tiễn lịch sử cách mạng nước ta, chứ không phải mang tính chủ quan duy ý chí. Để đi đến thắng lợi to lớn ngày nay, cuộc đấu tranh của nhân dân ta đã phải trải qua những khó khăn, thử thách, nhiều lúc vận mệnh dân tộc như “ngàn cân treo trên sợi tóc”, những khúc quanh với những ấu trĩ, sai lầm, khuyết điểm. Có những nơi, những lúc, những người vì lợi ích cá nhân hẹp hòi đã tạo ra những hố ngăn cách không đáng có trong cộng đồng dân tộc. Bước vào kinh tế thị trường, những hậu quả do mặt trái của nó mang lại, mà nổi lên là sự phân hóa giàu nghèo, là chủ nghĩa thực dụng về vật chất, đã gây nên những thách thức phức tạp làm tổn hại khối đại đoàn kết toàn dân tộc mà việc khắc phục và vượt qua những thách thức này không phải nhanh chóng, dễ dàng.

Hơn ai hết, dân tộc ta hiểu rõ giá trị của sự đoàn kết và quyết tâm làm tất cả những gì có thể làm được để củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại hoặc làm xói mòn, làm suy yếu khối đại đoàn kết này, vì lịch sử đã cho chúng ta bài học quý giá: “Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết”. Ngày nay, một môi trường quốc nội đoàn kết và ổn định là tiền đề cần thiết thu hút đầu tư nước ngoài, tạo thế đứng cho đất nước trong công cuộc hội nhập quốc tế, con đường tất yếu để nước ta tồn tại và phát triển trong xu thế toàn cầu hóa ngày nay. Mọi thế lực thù địch muốn phá hoại sự nghiệp chính nghĩa của dân tộc ta luôn luôn nhằm vào tiêu điểm là phủ nhận, xuyên tạc, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc của nhân dân ta, vì đây chính là cội nguồn, là bảo đảm cơ bản nhất cho thắng lợi của cách mạng nước ta, là một động lực chủ yếu cho sự phát triển của đất nước hôm nay và mai sau. Hơn bao giờ hết, bất cứ lúc nào, hễ nội bộ chia rẽ thì đất nước suy vong, kẻ thù nhòm ngó, xã hội rối ren và tụt hậu. Tụt hậu về mọi mặt, trước hết là về kinh tế, có nghĩa là tự đánh mất những thành quả cách mạng của nhân dân ta, dẫn đến mất độc lập, tự do, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ. Vì lẽ đó, đấu tranh để bảo vệ vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tức là đấu tranh làm thất bại về căn bản âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch phá hoại công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ta, là vấn đề tồn vong của dân tộc, của chế độ. Đó là lương tâm, trách nhiệm của mỗi người Việt Nam yêu nước, mỗi người cách mạng chân chính.

Truyền thống đoàn kết của dân tộc ta từ lịch sử được nâng lên tầm cao mới trong thời đại Hồ Chí Minh, kết tinh thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực tiễn cách mạng nước ta ngót một thế kỷ qua đã chứng minh một cách đanh thép sức sống mãnh liệt và sức mạnh vĩ đại của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc, nhất là Đảng ta đã quán triệt sâu sắc tư tưởng đó như sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong đường lối cách mạng của Đảng qua mọi thời kỳ, từ khi thành lập Đảng cho đến ngày nay.

Trải qua gần 35 năm đổi mới đất nước, các nghị quyết của Đảng đã không ngừng đi vào cuộc sống và khẳng định những nội dung đúng đắn của đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đó là tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở khơi dậy và phát huy sức mạnh dân tộc đến mức cao nhất, đặt lợi ích chung của dân tộc, của nhân dân lên trên hết, coi đó là điểm xuất phát để xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhằm chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu; tăng cường, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, tranh thủ mọi nguồn lực bên ngoài để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng với đồng bào trong Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc các buôn, thôn xã Dur Kmăl, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk _Nguồn: vietnamplus.vn

Nghị quyết số 07-NQ/TW, ngày 17-11-1993, của Bộ Chính trị khóa VII, “Về đại đoàn kết dân tộc và tăng cường Mặt trận Dân tộc thống nhất”, đề ra những quan điểm phản ánh tập trung nhất tư tưởng đại đoàn kết dân tộc, khẳng định nội dung cơ bản của đường lối đại đoàn kết dân tộc trong thời kỳ đổi mới là “đoàn kết mọi người trong đại gia đình dân tộc Việt Nam, bao gồm các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo, người trong nước và người định cư ở nước ngoài”(1), lấy mục tiêu chung là giữ vững độc lập, thống nhất, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, phấn đấu đưa nước ta sớm thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, coi đó là điểm tương đồng, “đồng thời chấp nhận những điểm khác nhau, không trái với lợi ích chung của dân tộc, cùng nhau xóa bỏ định kiến, mặc cảm, hận thù, hướng về tương lai, xây dựng tinh thần đoàn kết, cởi mở, tin cậy lẫn nhau...”(2). Đây là bước phát triển mới có ý nghĩa rất quan trọng về đường lối đại đoàn kết theo tư tưởng Hồ Chí Minh, bác bỏ những luận điệu sai trái cho rằng, Đảng và Nhà nước ta thành kiến, hẹp hòi và phân biệt đối xử với những người trước kia từng làm việc trong chế độ cũ.

Chúng ta đều biết rằng, sau khi miền Nam được giải phóng, nước nhà thống nhất, nhiều người trong chế độ cũ đã trở lại trong lòng dân tộc. Họ được sử dụng theo khả năng và sở trường, không ít người đã được tín nhiệm bầu là đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp, công tác trong các cơ quan nhà nước, thành viên của ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từ Trung ương đến địa phương. Nguyễn Hữu Có, nguyên Trung tướng trong quân đội Sài Gòn, nguyên Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng của chính quyền Sài Gòn, sau nhiều năm phấn đấu hòa nhập với nhân dân đã trở thành Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, chia sẻ: “Từ sau ngày đất nước thật sự độc lập và thống nhất đã có rất nhiều chuyển biến, không phải chỉ là một mặt mà ở nhiều mặt, không phải chỉ ở một phía, mà nhiều phía. Tôi ra đường, ra phố bây giờ ai cũng gọi tôi là anh, là bác. Đó là kết quả của những chuyển biến tích cực của xóm, phường, của chế độ và của chính tôi... Tôi đã chọn ở lại với quê hương, với dân tộc và tôi thật sự cảm thấy hạnh phúc...”(3).  

Nguyễn Cao Kỳ, nguyên Phó Tổng thống của chính quyền Sài Gòn khi về thăm quê hương năm 2004, trong buổi tiếp xúc với lãnh đạo Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, bày tỏ: “Tôi cảm nhận thấy tình hình kinh tế - xã hội phát triển, ổn định, tốt đẹp, đời sống nhân dân được cải thiện. Nhân dân vui vẻ, bình yên đón Tết cổ truyền của dân tộc trong khối đại đoàn kết thống nhất vui vẻ. Trước đây, do sự áp đặt của ngoại bang, Tổ quốc ta như một cơ thể bị chia cắt ra từng khúc, nay quý vị đã làm được sự thống nhất trở lại. Tôi thấy từ trong đường gân thớ thịt mạch máu lưu thông, sức sống của một cơ thể thống nhất đang phát triển từng ngày không gì cản trở được. Chúng tôi, những người ở vào tuổi thất thập cũng nhắc nhở mình phải góp phần nhỏ bé cho đất nước. Nhưng tương lai huy hoàng của đất nước này thuộc về lớp trẻ hiện nay có sự lãnh đạo tập trung của Nhà nước Việt Nam và với chính sách đại đoàn kết dân tộc đúng đắn, chúng ta sẽ phát triển phù hợp với trào lưu chung của thế giới”(4).

Những lời phát biểu trên đây của những người đã từng giữ những chức vụ rất cao trong bộ máy chính quyền Sài Gòn trước năm 1975 đã góp phần phê phán mạnh mẽ và bác bỏ luận điệu xuyên tạc đường lối đại đoàn kết của Đảng và Nhà nước ta. Không ai có thể tuyên truyền, cưỡng ép họ phải nghĩ tốt về chế độ. Chỉ một cảm nhận nhỏ khi đi ra đường được mọi người gọi là bác, là anh, đã làm cho họ thấy cuộc sống hạnh phúc, vì đồng bào dang tay đón họ, những người mà nếu ở nơi khác có thể bị trả thù và bị loại ra khỏi đời sống xã hội. Sức mạnh của đường lối đại đoàn kết đúng đắn của Đảng và Nhà nước chẳng những tập hợp được đông đảo nhân dân, cao hơn thế, nó còn khoan dung, cảm hóa được cả những người tưởng chừng như khó có thể trở về trong lòng dân tộc.

Những năm qua, sự xuyên tạc đường lối đại đoàn kết của Đảng và Nhà nước còn nhằm vào chia rẽ và phá hoại quan hệ gắn bó máu thịt giữa 54 dân tộc anh em, chia rẽ dân tộc Kinh với các dân tộc thiểu số, giữa các dân tộc thiểu số với nhau, phủ nhận chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước. Tuy thực tế còn nhiều khó khăn, thách thức, nhưng những thay đổi lớn lao trong đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số trên khắp các vùng, miền của đất nước đã chứng minh tính đúng đắn của các chính sách thể hiện sự “bình đẳng, đoàn kết, giúp nhau cùng phát triển” đối với các dân tộc thiểu số. Quan điểm đó của Đảng và Nhà nước ta là nguyên tắc cơ bản của các chủ trương, chính sách đoàn kết các dân tộc thiểu số, xuất phát từ bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, từ tư tưởng đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong Thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam ngày 19-4-1946, đã viết: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau... Ngày nay nước Việt Nam là nước chung của chúng ta... Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta. Vậy nên tất cả dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta”(5). Tư tưởng đó là linh hồn của các chính sách dân tộc của Nhà nước ta. Các chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế,... ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã từng bước thể hiện tinh thần đó và đã mang lại sự thay đổi rõ rệt.

Ya Đuk, người dân tộc Cơ Ho, tỉnh Lâm Đồng, nguyên là thủ lĩnh của lực lượng FULRO trước đây, sau nhiều năm sống trong rừng sâu chống lại chính quyền nhưng do nhận thức rõ chính sách đúng đắn của Nhà nước ta, đã quay về với nhân dân, tích cực tham gia xây dựng quê hương, tham gia Mặt trận Tổ quốc, rồi trưởng thành, là Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Lâm Đồng, đại biểu Quốc hội. Nhân dịp nghiên cứu, học tập các nghị quyết của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành khóa IX(6), Ya Đuk viết: “Xin cảm ơn Đảng Cộng sản Việt Nam, cảm ơn Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã đem lại cho bà con dân tộc thiểu số quyền được làm một công dân của một đất nước độc lập, dân chủ, có cuộc sống ngày một ấm no, hạnh phúc và tiến bộ. Những thay đổi to lớn đó là ước mơ của đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên từ bao đời nay”; “Đến nay, vẫn còn một số ít bà con dân tộc thiểu số Tây Nguyên bị kẻ xấu lợi dụng, kích động, chia rẽ, xúi giục, mua chuộc, đã tụ tập đông người có hành động gây rối. Đây chính là hành động mang màu sắc chính trị xấu xa, gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, xuyên tạc chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước”(7).

Những chia sẻ đó là tiếng nói của người trong cuộc, của những nhân chứng sống về chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, bác bỏ đanh thép mọi sự vu cáo xấu xa về chính sách dân tộc đúng đắn được đồng bào dân tộc thiểu số hoan nghênh và tích cực ủng hộ bằng hành động cụ thể, thiết thực.

Trong hoạt động chống phá đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, các thế lực thù địch còn ráo riết chống phá chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo, chia rẽ khối đoàn kết giữa người theo tôn giáo và người không theo tôn giáo, giữa tôn giáo này với tôn giáo khác, nhằm làm suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc của nhân dân ta. Lợi dụng tính phức tạp của vấn đề tôn giáo và thổi phồng một số sai lầm, khuyết điểm trong nhận thức và việc làm của một số cán bộ, các thế lực thù địch không ngừng vu cáo Đảng và Nhà nước ta kỳ thị người theo đạo, bóp nghẹt tự do tín ngưỡng, tôn giáo, vi phạm nhân quyền... Thực tế tự do tôn giáo ở nước ta đã hoàn toàn bác bỏ những luận điệu sai trái đó. Chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta.

Ngay từ khi mới ra đời nước Việt Nam mới, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố long trọng chính sách của Chính phủ là tự do tín ngưỡng, lương giáo đoàn kết. Chính sách đó đi vào cuộc sống đã tập hợp đồng bào có đạo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng hành cùng dân tộc, sống tốt đời đẹp đạo, đóng góp to lớn vào thắng lợi chung của công cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ và anh dũng của nhân dân ta.

Trong quá trình đổi mới toàn diện đất nước, chính sách tôn giáo đã không ngừng hoàn thiện, ngày càng phù hợp với thực tế khách quan. Tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta; đồng bào theo các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đạo đức tôn giáo có những điểm phù hợp với yêu cầu xây dựng xã hội mới. Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán chính sách đoàn kết tôn giáo, đoàn kết giữa người theo tôn giáo và người không theo tôn giáo, giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có công với Tổ quốc, với nhân dân, đồng thời nghiêm cấm sự phân biệt đối xử với công dân vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo.

Cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng dạy chữ cho con em đồng bào dân tộc thiểu số _Nguồn: qdng.vn

Trong xã hội ta, mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật. Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ, được hoạt động tôn giáo, được mở cơ sở đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo, xuất bản các ấn phẩm về tôn giáo, được xây dựng, sửa chữa, giữ gìn cơ sở thờ tự theo quy định của pháp luật. Những công trình thờ tự cũ được tôn tạo khang trang, những công trình lớn mang tầm cỡ khu vực được đầu tư xây mới, nhiều hội nghị, hội thảo quốc tế về tôn giáo đã được tổ chức thành công tại Việt Nam.

Hiến pháp và pháp luật bảo hộ các tôn giáo, các tôn giáo hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật là nhằm giữ gìn an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho hoạt động tôn giáo diễn ra lành mạnh. Cần khẳng định rằng, không một quốc gia nào trên thế giới không có yêu cầu về giữ vững môi trường ổn định để bảo đảm cuộc sống yên lành của nhân dân, trong đó có những người theo tôn giáo. Ngay từ thời trung cổ, các nhà nước vùng Trung Cận Đông và châu Âu cũng đã ra những đạo luật buộc những người theo tôn giáo phải chấp hành nghiêm chỉnh. Do vậy, nghiêm trị những kẻ gây rối, dù họ là người theo tôn giáo, tuy là một việc không muốn có, cũng là yêu cầu bắt buộc của việc quản lý đất nước. Không thể coi việc xử lý những cá nhân tín đồ có những hành động vi phạm pháp luật, xâm phạm trật tự xã hội, cuộc sống yên lành của nhân dân, là “đàn áp tôn giáo”, “vi phạm nhân quyền”. Thử hỏi, nếu cứ để cho những phần tử xấu, mượn cớ đòi tự do tín ngưỡng, tôn giáo để tiến hành những hành động quá khích, gây rối làm tổn hại đến cuộc sống của cộng đồng dân cư, trong đó có cả những người theo đạo, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thì sẽ dẫn đến hậu quả như thế nào? Khi đó, chẳng những lợi ích dân tộc bị đe dọa, mà lợi ích thiết thân của những người theo đạo - một bộ phận gắn bó của dân tộc, cũng sẽ không được bảo đảm.

Mùa thu năm 1843, trong tác phẩm Về vấn đề Do Thái, C. Mác đã viết: “Ngay trong một nước mà giải phóng chính trị đã hoàn thành, tôn giáo không những vẫn tồn tại mà còn biểu hiện sức sống và sức mạnh, thì điều đó chứng tỏ rằng tồn tại của tôn giáo không mâu thuẫn với tính chất hoàn thiện của Nhà nước”(8). V.I. Lê-nin cũng từng phê phán sự phân biệt đối xử giữa những người có đạo và không có đạo. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đối với những người theo tôn giáo, đức tin tôn giáo và lòng yêu nước không mâu thuẫn nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã nêu gương sáng trong việc đoàn kết đồng bào theo đạo với tất cả tấm lòng chân thành và tình cảm thiết tha.

Nhà nước xã hội chủ nghĩa tạo ra những điều kiện cơ bản bảo đảm cho sự thành công của chính sách tôn giáo. Xét về bản chất, chủ nghĩa xã hội nhằm xây dựng một xã hội, trong đó không còn chế độ bóc lột, đàn áp, bất công; mọi người sống tự do, bình đẳng, nhân ái, thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Điều đó trùng hợp với những ý tưởng tốt đẹp của những nhà sáng lập các tôn giáo. Không nghi ngờ gì nữa, những luận điệu sai trái đặt chủ nghĩa xã hội đối lập với tôn giáo, vu khống Nhà nước ta đàn áp tôn giáo là hoàn toàn xa lạ với quan điểm, chính sách về tôn giáo ở nước ta.

Trong các cuộc làm việc, trao đổi với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, nhiều vị chức sắc tôn giáo đã bày tỏ sự trân trọng, tin tưởng, đồng thuận với chính sách tôn giáo của Việt Nam. Chẳng hạn như, mục sư đạo Tin Lành Vũ Hùng Cường bày tỏ: Nhờ có chính sách tôn giáo đúng đắn của Nhà nước, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, mọi người được tự do tín ngưỡng, tự do không tín ngưỡng và bình đẳng trước pháp luật. Tôi thấy chính sách ấy vừa mang tính dân tộc, vừa mang tính quốc tế của mỗi một xã hội tươi đẹp văn minh. Nguyễn Cao Kỳ cũng phát biểu: “Tôi về kỳ này được yên ổn tham quan, vui chơi, không gặp một trường hợp trắc trở nào. Mọi người đều được yên ổn làm ăn, sinh sống, kể cả những người có đạo mà tôi được gặp ở các chùa, nhà thờ cũng được yên vui hành đạo”(9).

Linh mục Phê-rô Nguyễn Công Danh, Phó Chủ tịch Ủy ban đoàn kết Công giáo Việt Nam sinh thời luôn khẳng định: Các tôn giáo tại Việt Nam nói chung - nói riêng là Công giáo - đều dành cho chủ nghĩa xã hội những tình cảm trân trọng, tin cậy và sẵn sàng cộng tác với Nhà nước trong những chương trình xã hội, ích quốc, lợi dân theo đúng phương châm mà Giáo hội Công giáo đề ra: “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc”, để phục vụ hạnh phúc cho đồng bào.

Các thế lực thù địch không thể chia rẽ được khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó có đồng bào theo đạo. Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau cũng như tôn chỉ, mục đích hành đạo của từng tôn giáo, như “Đạo pháp - dân tộc và chủ nghĩa xã hội” của Phật giáo, “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc” của Công giáo, “Sống phúc âm phụng sự Thiên Chúa, phụng sự Tổ quốc và dân tộc” của đạo Tin Lành, “Nước vinh, đạo sáng” của đạo Cao Đài, “Chấn hưng nền đạo gắn bó với dân tộc, phù hợp với chính sách và pháp luật của Nhà nước góp phần tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” của Phật giáo Hòa hảo,... là xu hướng chủ lưu hành đạo của truyền thống tôn giáo yêu nước trong cộng đồng các tôn giáo của nước ta.

Trong cuộc đấu tranh chống lại những luận điệu chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, còn phải phê phán những luận điệu sai trái xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với kiều bào đang định cư, sinh sống, làm việc ở nước ngoài. Đảng và Nhà nước ta luôn coi đồng bào định cư ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, luôn nhất quán chủ trương chăm lo cung cấp thông tin về tình hình đất nước, bảo hộ quyền lợi chính đáng của đồng bào, nâng cao lòng yêu nước và trách nhiệm công dân, ý thức cộng đồng, tinh thần tự tôn và tự hào dân tộc, giữ gìn bản sắc văn hóa và truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Nhà nước ta đã không ngừng đổi mới chính sách, tạo điều kiện ngày càng thuận lợi hơn để những người con xa xứ về thăm quê hương và đóng góp thiết thực vào công cuộc xây dựng đất nước. Nhờ chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc đúng đắn mà kiều bào ta ngày càng xóa bỏ mặc cảm, gắn bó với quê hương. Đại bộ phận kiều bào đều hướng về Tổ quốc, nhiều người đã về thăm và tham gia đầu tư xây dựng đất nước. Số đồng bào về thăm quê hương ngày càng tăng, kể cả những người đã giữ những chức vụ cao trong bộ máy của chính quyền Sài Gòn trước năm 1975. Thực tế đó bác bỏ luận điệu cho rằng, Nhà nước ta phân biệt đối xử với kiều bào.

Trong những thành tựu của đất nước gần 35 năm đổi mới có sự đóng góp không nhỏ của kiều bào, thông qua hoạt động sôi động của kiều hối với hàng chục tỷ USD hằng năm, các dự án đầu tư vào nhiều lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, giáo dục, y tế, xã hội, văn hóa, khoa học - công nghệ... của các nhà doanh nghiệp, trí thức kiều bào với nhiều tài năng trên nhiều lĩnh vực. Tổ quốc và quê hương với truyền thống lấy đại nghĩa dân tộc làm trọng luôn dang rộng vòng tay đón chào những người con xa quê trở về. Tuy còn bộ phận nhỏ cố chấp, có biểu hiện chống lại xu thế hòa giải, hòa hợp dân tộc nhưng với đường lối đại đoàn kết dân tộc đúng đắn, có thể tin tưởng rằng, trong tương lai không xa những rạn nứt và ngăn cách đó sẽ được khỏa lấp./.

------------------------------------------------

(1), (2) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, t. 53, tr. 74 - 75
(3) Tạp chí Mặt trận, số 2 (tháng 11-2001), tr. 19
(4) Hội đồng Lý luận Trung ương: Lẽ phải của chúng ta, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2004, tr. 147
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 4, tr. 249
(6) Nghị quyết số 23-NQ/TW về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; Nghị quyết số 24-NQ/TW về công tác dân tộc; Nghị quyết số 25-NQ/TW vềcông tác tôn giáo
(7) Hội đồng Lý luận Trung ương: Lẽ phải của chúng ta, Sđd, tr. 149
(8) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập,Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 1, tr. 524
(9) Hội đồng Lý luận Trung ương: Lẽ phải của chúng ta, Sđd, tr. 154